Wednesday, 30 May 2018

Truyền thông Trung Quốc: Không thể xem nhẹ tên lửa bờ Shaddock bắn xa nhất của Việt Nam



Truyền thông Trung Quốc: Không thể xem nhẹ tên lửa bờ Shaddock bắn xa nhất của Việt Nam
Hình ảnh phóng tên lửa đối hạm P-35B Shaddock của Việt Nam xuất hiện trên truyền thông Trung Quốc.

Từ thực tiễn huấn luyện bắn đạn thật gần đây của lực lượng tên lửa bờ Hải quân Việt Nam, truyền thông Trung Quốc đã lên tiếng cho rằng không thể coi nhẹ dòng tên lửa Shaddock này.
Theo Tạp chí Kiến thức Vũ khí Trung Quốc, hiện nay, tác chiến kiểm soát biển của Việt Nam vẫn lấy hỏa lực bờ làm chủ. Ngoài không quân bờ biển ra, chủ thể của hỏa lực trên bờ chính là lực lượng tên lửa bờ đối hạm.
Đây là một trong những lực lượng được Quân đội Nhân dân Việt Nam ưu tiên phát triển với 5 Lữ đoàn tên lửa bờ đối hạm, bao gồm:
Lữ đoàn 679 trang bị tên lửa Shaddock (P-5 Pyatyorka theo cách gọi của Nga) ở miền Bắc; Lữ đoàn 680 trang bị tên lửa Styx (P-15 Termit) ở miền Trung; Lữ đoàn 681 trang bị tên lửa Bastion-P và Lữ đoàn 685 trang bị tên lửa dẫn đường chính xác EXTRA và ACCULAR của Israel ở duyên hải Nam Trung Bộ.
Trong đó, Lữ đoàn tên lửa bờ 679 được thành lập sớm nhất, tuy trang bị cũ nhưng có một vị trí đặc biệt và uy lực rất lớn.
Từ thực tiễn huấn luyện bắn đạn thật gần đây của lực lượng tên lửa bờ Hải quân Việt Nam, truyền thông Trung Quốc đã lên tiếng cho rằng không thể coi nhẹ dòng tên lửa Shaddock này.
Truyền thông Trung Quốc: Không thể xem nhẹ tên lửa bờ Shaddock bắn xa nhất của Việt Nam - Ảnh 1.
Tên lửa Shaddock sau khi nạp nhiên liệu được đưa vào ống phóng
Đầu những năm 1980, Việt Nam trang bị lượng lớn pháo tầm xa và tên lửa, ngoài tên lửa Scud còn trang bị tên lửa bờ Shaddock - tiền đề để thành lập Lữ đoàn 679.
Năm 1980, Việt Nam chính thức tiếp nhận một hệ thống tên lửa bờ đối hạm SSC-1B Sepal (tổ hợp phòng thủ bờ biển 4K44 Redut-M) và 25 quả tên lửa chống hạm P-35B Shaddock do Liên Xô viện trợ.
Tên lửa bờ đối hạm SSC-1B thực tế là phiên bản cải tiến của Shaddock kiểu hạm đối hạm với hệ thống chỉ huy kiểm soát tác chiến có sự khác biệt rất lớn nhưng thân tên lửa về cơ bản không có sự thay đổi, vì vậy rất nhiều nơi vẫn quen gọi là Shaddock.
Tên lửa bờ đối hạm Sepal của Việt Nam là tên lửa có tầm bắn xa nhất Đông Nam Á. Sau đó, Việt Nam nhiều lần nâng cấp, cải tiến các bộ phận như hệ thống điện tử, được cho đã đạt tiêu chuẩn SSC-1M, có khả năng chống gây nhiễu điện tử.
Tên lửa P-35B sau khi nâng cấp có thể tiến hành bay hành trình ở tầm cực thấp, từ 100 m xuống 20 m, làm cho tên lửa phòng không của đối phương rất khó đánh chặn. Tên lửa này sau khi nâng cấp hoàn toàn có thể sánh ngang với tên lửa bờ đối hạm hiện đại trên thế giới, có sức chiến đấu rất mạnh.
Theo số liệu của nhà sản xuất, tầm bắn của Shaddock có thể lên tới 450km hoặc hơn và đây có thể coi là loại tên lửa bờ có tầm bắn xa nhất của Hải quân Việt Nam.
Theo tạp chí Kiến thức Vũ khí Trung Quốc, từ việc triển khai ban đầu Lữ đoàn 679 có thể thấy được vị trí chiến lược của lực lượng tên lửa bờ Việt Nam. Tờ này cũng đánh giá cao khả năng sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị tên lửa bờ Việt Nam.
Những năm gần đây, Việt Nam bắt đầu tổ chức huấn luyện thực chiến đối với tên lửa Shaddock, nhiều lần tiến hành huấn luyện hiệp đồng với Lữ đoàn tên lửa Styx.
Đầu năm 2018, đài truyền hình Việt Nam công bố cảnh quay video huấn luyện bắn bia của Lữ đoàn 679 với tên lửa Shaddock, cho thấy nó có khả năng sẵn sàng chiến đấu rất cao.
Theo Thời đại

Friday, 7 April 2017

Báo Mỹ mách kế tung 'vòng kim cô' chặn Trung Quốc phiêu lưu

Để thành công, một chính sách răn đe cần phải có một sự đe dọa trả đũa đáng tin cậy. Lầu Năm Góc dự định sẽ giải quyết vấn đề này một phần bằng cách chế tạo các tàu ngầm và máy bay ném bom tàng hình.
tsbay7_VZYE
Cụm tác chiến tàu sân bay Mỹ
Nếu Trung Quốc tấn công một đồng minh hoặc đối tác của Mỹ, ngay cả một số lượng nhỏ bộ binh của Mỹ cũng có thể giúp đỡ các lực lượng địa phương chống trả quyết liệt. Các xung đột hiện đại ở khu vực Đông Nam Á và Trung Đông đã thể hiện những gì mà một lực lượng mặt đất không chính quy khiêm tốn có thể làm được với sự giúp đỡ của các vũ khí hiện đại và các cố vấn tài giỏi.
Vào năm 2001, một nhóm nhỏ lực lượng đặc biệt của Mỹ, được hỗ trợ bởi máy bay, đã giúp Liên minh phương Bắc của Afghanistan đánh bại Taliban. Và vào năm 2006, các chiến binh Hezbollah ở Liban, với sự trợ giúp của các cố vấn Iran, đã chiến đấu chặn đứng quân đội Israel trong suốt 1 tháng.
Một nỗ lực tương tự của các lực lượng mặt đất của Mỹ ở Thái Bình Dương có thể khiến việc đoạt lấy và chiếm đóng lãnh thổ trở thành một vấn đề cực kỳ tốn kém đối với Trung Quốc, đặc biệt là nếu các lực lượng địa phương cũng được huấn luyện và trang bị tiên tiến. Chẳng hạn, khả năng tiếp cận súng cối, tên lửa tầm ngắn dẫn đường chính xác, và các tên lửa phòng không vác vai, sẽ tối đa hóa việc sát thương của các đơn vị kháng chiến du kích nhỏ.
Bằng cách gánh vác nhiều hơn trách nhiệm ngăn chặn PLA kiểm soát vùng trời và vùng biển mà họ cần để gia tăng các hoạt động tấn công, các lực lượng mặt đất có thể để cho các lực lượng không quân và hải quân của đồng minh thực hiện các nhiệm vụ mà họ có thể thực hiện, chẳng hạn như do thám tầm xa và không kích.
Nếu răn đe thất bại, các phương tiện không quân và hải quân này sẽ chứng tỏ tầm quan trọng đối với việc bảo vệ chuỗi đảo thứ nhất và bù lại các lợi thế của PLA. Chẳng hạn, PLA có thể tập trung các lực lượng ở bất kỳ địa điểm nào dọc chuỗi đảo thứ nhất nhanh chóng hơn nhiều so với Mỹ và các đồng minh của nước này, những nước có quân đội của họ được phân bố rải rác hơn.
Và PLA không cần phải điều hòa các lợi ích quốc gia mâu thuẫn. (Sau khi Trung Quốc tấn công một hòn đảo, các quốc gia dọc chuỗi đảo này có thể sẽ muốn giữ các lực lượng của họ tại chỗ để bảo vệ quê hương của mình). Bằng cách giảm bớt đòi hỏi phải có các lực lượng không quân và hải quân của Mỹ thực hiện các nhiệm vụ chẳng hạn như chống xâm nhập vùng trời và vùng biển, các lực lượng mặt đất sẽ cho phép các lực lượng không quân và hải quân giữ vững lực lượng, sẵn sàng di chuyển nhanh chóng để bảo vệ một mắt xích bị đe dọa trong chuỗi.
Để thành công, một chính sách răn đe cũng cần phải có một sự đe dọa trả đũa đáng tin cậy sau sự việc, và ở đây, các lực lượng mặt đất cũng có thể giúp đỡ. Hiện nay, các vũ khí của Mỹ mà có thể phát động một cuộc tấn công trả đũa chính xác được đặt tại các căn cứ không quân và tàu sân bay tiền tuyến ngày càng dễ bị tổn thương. Lầu Năm Góc dự định sẽ giải quyết vấn đề này một phần bằng cách chế tạo các tàu ngầm và máy bay ném bom tàng hình tầm xa mới, nhưng chi phí cho các khí tài hạng nặng như vậy là rất cao, đặc biệt là do tải trọng tương đối khiêm tốn của chúng.
Nếu so sánh, các lực lượng mặt đất, có thể mất một mức chi phí rẻ hơn để cung cấp thêm hỏa lực. Không giống như các lực lượng không quân và hải quân, các lực lượng mặt đất có thể không cần quay trở lại các căn cứ xa xôi để tái vũ trang. Họ có thể dự trữ nhiều đạn dược hơn rất nhiều so với ngay cả chiếc máy bay ném bom hay tàu chiến lớn nhất, và họ có thể cất trữ chúng trong các boongke kiên cố có thể chống chịu được các đợt tấn công tốt hơn.
Hơn nữa, trong trường hợp có xung đột, PLA sẽ được hưởng lợi nhờ một lợi thế đặc biệt không cân xứng: số lượng lớn tên lửa đạn đạo tầm trung trên đất liền của nước này. Mỹ với tư cách là một bên ký kết Hiệp ước các lực lượng hạt nhân tầm trung (IRNF), không thể triển khai các hệ thống này. Tuy nhiên, bằng cách trang bị cho các lực lượng mặt đất những tên lửa tương đối rẻ tiền tuân thủ các hạn chế về tầm bắn của hiệp ước này, và bằng cách bố trí các tên lửa này dọc chuỗi đảo thứ nhất để giảm bớt chi phí liên quan đến việc phóng tên lửa tầm xa, Washington và các đồng minh của mình có thể tiến xa trong việc “sửa chữa” sự mất cân bằng này với một chi phí tương đối thấp. Và nếu bộ binh không thể hành động đủ nhanh để đối phó với một sự xâm phạm các phòng tuyến của chuỗi đảo này, các phòng tuyến gần đó có thể nhanh chóng đáp trả bằng cách tập trung hỏa lực tên lửa vào khu vực bị đe dọa.
Có lẽ điểm yếu nhất của chuỗi đảo thứ nhất là mạng lưới tác chiến của Mỹ – các hệ thống quan trọng có thể xử lý tất cả vấn đề từ chỉ đạo và theo dõi quân đội và tiếp tế cho đến điều khiển vũ khí. Mạng lưới này hiện nay chủ yếu dựa vào các vệ tinh và phương tiện bay không người lái (UAV) không tàng hình, cả hai đều có thể bị PLA nhắm làm mục tiêu.
Cách tốt nhất để giảm bớt rủi ro sẽ là thiết lập một mạng lưới thông tin liên lạc bằng cáp quang được chôn dưới mặt đất và đáy biển dọc chuỗi đảo này, cho phép các lực lượng khác nhau tiếp nhận và truyền tải dữ liệu một cách an toàn từ các trung tâm chỉ huy kiên cố trên đất liền. Các lực lượng phòng không và phong tỏa biển được đặt trên đảo, cũng như là các bãi mìn chống tàu, có thể bảo vệ các đường dây cáp chạy giữa các hòn đảo.
Giống với bất kỳ khái niệm tác chiến nào, phòng thủ quần đảo cũng gặp phải những trở ngại. Hai trở ngại nổi bật nhất là tài chính và địa chính trị: phí tổn về sau và sự sẵn sàng hợp tác của các nước nằm dọc chuỗi đảo thứ nhất. Nhưng bất chấp cái giá được đưa ra để có một tư thế mới, cộng đồng phòng thủ ở Mỹ đang bắt đầu nhận thấy rằng những sự cắt giảm được dự kiến hiện tại trong ngân sách quốc phòng của Lầu Năm Góc không thích hợp với môi trường an ninh ngày càng nguy hiểm hiện nay. Ủy ban Quốc phòng, một nhóm chuyên gia quốc phòng của hai đảng của Mỹ đã đề nghị chính quyền và quốc hội Mỹ khôi phục chi tiêu quốc phòng.
Lầu Năm Góc cũng có thể đưa ra lập luận rằng việc đầu tư vào phòng thủ quần đảo có thể đem lại những lợi ích vượt ra ngoài Tây Thái Bình Dương. Chẳng hạn, cái gọi là khái niệm Tác chiến trên không-trên bộ, vốn được phát triển trong những năm 1970 và giúp ngăn chặn một cuộc tấn công của khối Vacsava vào NATO, đã thành công không chỉ ở Trung Âu. Mỹ và các đồng minh của nước này cũng đã dựa vào khái niệm này, dưới hình thức sửa đổi, trong chiến tranh vùng Vịnh năm 1990-1991. Tương tự, Lầu Năm Góc có thể sử dụng nhiều năng lực liên quan đến phòng thủ quần đảo để bảo vệ các khu vực quan trọng khác, gồm cả các đồng minh và đối tác gần vùng Vịnh Persian và Biển Baltic.
Báo Mỹ mách kế tung “vòng kim cô” chặn Trung Quốc phiêu lưu
Chiến đấu cơ xuất kích từ tàu sân bay Mỹ
Lầu Năm Góc vẫn dành ra một số lượng đáng kể lực lượng mặt đất để bảo vệ Hàn Quốc trước một cuộc tấn công của Triều Tiên. Tuy nhiên, một cuộc xâm lược quy mô lớn là điều không thể xảy ra; mối đe dọa lớn hơn là Bình Nhưỡng có thể phát động một cuộc tấn công với các tên lửa được trang bị đầu đạn hạt nhân hoặc đầu đạn hóa học. Trong bất kỳ trường hợp nào, Hàn Quốc có dân số lớn gấp đôi dân số của Triều Tiên và thu nhập bình quân đầu người lớn gấp hơn 15 lần. Seoul có thể và nên gánh vác một phần gánh nặng phòng thủ lớn hơn trước một cuộc tấn công trên bộ truyền thống.
Ngay cả với các nguồn lực thích hợp, việc phối hợp với một nhóm đồng minh và đối tác khu vực chắc chắn sẽ là một thách thức. Các lực lượng mặt đất của Mỹ sẽ phải đóng các vai trò khác nhau phụ thuộc vào nước này. Nhật Bản, với các năng lực đáng gờm của mình, có thể hỗ trợ cho tuyến phòng thủ trên bộ của nước này mà không cần nhiều đến sự trợ giúp của Mỹ. Ngược lại, các lực lượng mặt đất của Mỹ có thể sẽ cần phải đảm nhận một vai trò to lớn hơn ở Philippines. Ở cả hai nước, một sự hiện diện lớn hơn của Mỹ ở trên bộ sẽ đem lại một mức độ đảm bảo mà các lực lượng không quân và hải quân, vốn có thể nhanh chóng rút lui, không thể đem lại. Trong khi đó, Đài Loan, do không có các mối quan hệ ngoại giao với Mỹ, sẽ phải hành động với hầu như không hoặc không có sự trợ giúp đỡ nào.
Một số nước như Nhật Bản và Việt Nam, đã cho thấy rằng họ nghiêm túc về việc triển khai dạng phòng tuyến mạnh mẽ cần thiết cho phòng thủ biển đảo. Các quốc gia khác nằm ngoài chuỗi đảo thứ nhất, trong đó có Úc và Singapore, dường như có ý sẵn sàng cung cấp sự trợ giúp về căn cứ và hậu cần. Nhưng chính bởi NATO cũng đã phải mất hơn một thập kỷ để thiết lập một sự răn đe thông thường đáng gờm đối với khối Vacsava, Mỹ và các đồng minh của mình không thể thiết lập phòng thủ quần đảo trong một sớm một chiều.
Hiện nay, việc cam kết thực hiện chiến lược này có lợi thế, đó là cho phép Washington và các bạn bè của mình dàn trải phí tổn triển khai các lực lượng như vậy theo thời gian. Trong khi đó, bởi sự cạnh tranh quân sự đang diễn ra của khu vực này, Mỹ và các đồng minh của mình dọc chuỗi đảo thứ nhất phải nỗ lực kiên trì, lâu dài để duy trì sự ổn định và thịnh vượng của khu vực.
Dĩ nhiên, phòng thủ quần đảo sẽ không đem lại nhiều hơn một thứ thuốc chữa bách bệnh chống lại mọi hình thức gây hấn của Trung Quốc so với sự răn đe thông thường của NATO đã giải quyết những vấn đề mà các cuộc chiến giải phóng dân tộc và tăng cường hạt nhân của Moscow đặt ra. Nhưng việc thiết lập một tư thế như vậy sẽ thể hiện bước đi đầu tiên cần thiết trong việc đối trọng với các tham vọng của Trung Quốc.

Tiêm kích MiG-21 Việt Nam bắn rơi máy bay địch bằng…rocket

Không phải quốc gia nào cũng có thể dùng tiêm kích MiG-21 bắn rơi máy bay địch bằng đạn rocket không điều khiển như Việt Nam. 
Tiêm kích MiG-21 Việt Nam bắn rơi máy bay địch bằng…rocket
Như chúng ta đã biết, để một máy bay có thể bắn hạ máy bay khác trên không, trong lịch sử ngoài súng máy, pháo cao tốc, thì tên lửa không đối không có điều khiển gần như là vũ khí số 1 kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Ngay cả bây giờ cũng vậy, các quốc gia trên thế giới vẫn tích cực phát triển nâng cao tính năng của các loại tên lửa không đối không. Ngay từ những năm 1970-1980 đã xuất hiện các tên lửa có tầm phóng 200-300km, hiện nay Nga đã có loại đạn bắn xa đến 400km. Nguồn ảnh: Wikipedia
Tiêm kích MiG-21 Việt Nam bắn rơi máy bay địch bằng…rocket
Tuy vậy, bên cạnh súng-pháo, tên lửa (missile), rocket (đạn lắp động cơ nhưng không có điều khiển) thường sử dụng như vũ khí không đối đất rẻ tiền cũng từng được dùng để tấn công không đối không. Không ít quốc gia trong lịch sử đã thành công với vũ khí này, trong đó có Việt Nam. Nguồn ảnh: Wikipedia
Tiêm kích MiG-21 Việt Nam bắn rơi máy bay địch bằng…rocket
Theo báo Phòng không – Không quân, ngày 7/7/1966, các mạng ra đa của Quân chủng phát hiện nhiều tốp máy bay của Không quân Mỹ cất cánh từ Thái Lan và hướng bay vào khu vực Thái Nguyên. Sở chỉ huy Quân chủng và Trung đoàn 921 lệnh cho biên đội 2 chiếc tiêm kích MiG- 21 do phi công Nguyễn Nhật Chiêu (mang tên lửa R-3S) và Trần Ngọc Síu (mang rocket) cất cánh đánh địch. Sau khi ổn định độ cao, 2 chiếc MiG-21 được dẫn vào khu chờ bay tuần tiễu trên đỉnh sân bay. Nguồn ảnh: VNA
Tiêm kích MiG-21 Việt Nam bắn rơi máy bay địch bằng…rocket
Đúng như nhận định ban đầu, các máy bay F-105D từ Thái Lan sang đã bay ngang dãy Tam Đảo, ngang qua Sân bay Nội Bài. Lập tức từ khu chờ, 2 chiếc MiG- 21 của ta lao tới bất ngờ tấn công. Nguồn ảnh: VNA
Tiêm kích MiG-21 Việt Nam bắn rơi máy bay địch bằng…rocket
Số 2 phát hiện tốp F-105D đang bay hướng 340 độ, bên trái phía sau, lập tức thông báo cho số 1 và ép độ nghiêng vòng phải gấp, cắt vào phía sau hai chiếc F-105D. Các máy bay F-105 bị bất ngờ, vỡ đội hình. Ở vị trí thuận lợi, số 2 Trần Ngọc Síu khéo léo đưa mục tiêu vào vòng ngắm rồi phóng một loạt rocket ở cự ly 500m, sau đó tiếp cận đến cự ly 150m tiếp tục phóng loạt thứ hai. Nguồn ảnh: VNA
Tiêm kích MiG-21 Việt Nam bắn rơi máy bay địch bằng…rocket
Số 1 Nguyễn Nhật Chiêu nhìn thấy số 2 bắn trúng cánh máy bay F-105D, chiếc F-105D trúng đạn, lao xuống, Đại úy, phi công Tack Harvey Tomes nhảy dù và bị bắt sống. Hai chiếc MiG-21 tăng tốc độ thoát ly khỏi khu vực chiến đấu. Trận chiến diễn ra quá nhanh và bất ngờ khiến tốp tiêm kích F-4 hộ tống không kịp trở tay. Biên đội Nguyễn Nhật Chiêu, Trần Ngọc Síu hạ cánh an toàn tại Sân bay Gia Lâm.Nguồn ảnh: VNA
Tiêm kích MiG-21 Việt Nam bắn rơi máy bay địch bằng…rocket
Phía ta ghi nhận Phi công Trần Ngọc Síu là người đầu tiên đã bắn rơi một chiếc F-105D bằng rocket trong trận chiến đấu ngày 7/7/1966. Mặc dù có nhiều tranh luận từ phía đối phương nhưng sau khi nghiên cứu kỹ các tài liệu lưu trữ và phỏng vấn các đồng chí trực tiếp chỉ huy và tham chiến giai đoạn này như các Anh hùng: Trần Hanh, Nguyễn Nhật Chiêu, Nguyễn Ngọc Độ… thì có thể khẳng định rằng nhận định phi công Trần Ngọc Síu là người đầu tiên bắn rơi máy bay Mỹ bằng rocket là hoàn toàn chính xác. Nguồn ảnh: Wikipedia
Tiêm kích MiG-21 Việt Nam bắn rơi máy bay địch bằng…rocket
Nhìn chung, việc sử dụng rocket để không đối không thường hiệu quả ở cự ly gần, ngoài tầm bắn hiệu quả của pháo một chút (khoảng 500-1.000m). Trong ảnh, trên cánh tiêm kích MiG-21 mang bệ phóng UB-16-57UMP lắp đạn rocket 57mm S-5 có tầm bắn xa nhất 3-4km. Nguồn ảnh: Wikipedia
Tiêm kích MiG-21 Việt Nam bắn rơi máy bay địch bằng…rocket
Tuy hiện nay các máy bay chiến đấu hiện đại được trang bị tên lửa không đối không tiên tiến, thế nhưng trong điều kiện cần thiết máy bay tiêm kích Su-27/30 của KQND Việt Nam hoàn toàn có thể dùng rocket để bắn hạ mục tiêu trên không ở tầm gần. Nguồn ảnh: Báo PK-KQ
Tiêm kích MiG-21 Việt Nam bắn rơi máy bay địch bằng…rocket
Ảnh: Lắp đạn rocket vào tiêm kích Su-30 chuẩn bị diễn tập bắn đạn thật. Nguồn ảnh: Báo PK-KQ

Wednesday, 15 February 2017

7 nữ tướng tài ba nhất trong lịch sử thế giới

Lịch sử thế giới ghi nhận nhiều vị nữ tướng tài ba đã đứng lên chỉ huy trận mạc tài tình không kém nam nhi.
haibatrung
Hai Bà Trưng tức chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị, là những nữ tướng tài ba của dân tộc Việt Nam. Hai Bà Trưng đã chỉ huy quân lính trong cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược từ Trung Quốc. Hai nữ chiến binh thường cưỡi hai con voi chiến lớn, dẫn đầu các đội quân chống lại kẻ thù.
trieu thi trinh
Triệu Thị Trinh (hay còn gọi là bà Triệu) là nữ tướng Việt Nam đã lãnh đạo thành công trận chiến chống trả quân Ngô xâm lược đất nước. Bà Triệu từng tuyên bố với kẻ địch rằng, bà sẽ chiếm lại đất nước, đánh đuổi quân xâm lược của Trung Quốc và không chịu hạ mình làm tì thiếp cho bất kỳ ai. Không chịu sống cảnh nô lệ khổ nhục, lớn lên bà bỏ trốn lên rừng và tập hợp một đội quân gồm hơn 1000 tráng sĩ. Bà Triệu đã chỉ huy quân lính ngăn chặn thành công ít nhất 30 cuộc tấn công của quân Ngô. Người ta kể lại, bà Triệu thường cưỡi voi và mang trên người hai thanh kiếm khi xông pha ra trân mạc, theoWikipedia.
nu tuong1
Ahhotep I (nghĩa là "Hòa bình của Mặt Trăng"), là một nữ hoàng của Ai Cập cổ đại, bà sống vào khoảng những năm 1560 – 1530 trước Công nguyên vào đầu thời Tân vương quốc. Ahhotep I là một nữ hoàng có thể đóng vai trò then chốt trong việc tạo lập triều đại thứ 8 của Ai Cập cổ đại. Bà là một nữ hoàng chiến tranh khi đã lãnh đạo quân đội chống lại người Hyksos và được chôn cất cùng những vũ khí tượng trưng và 3 cờ danh dự vốn được tặng thưởng cho những chiến tích quân sự đặc biệt. Nội dung các dòng chữ khắc trên một bia tưởng niệm Ahhotep I cho hay: "Bà là người đã hoàn thành các nghi lễ chăm lo cho Ai Cập...; quan tâm tới quân lính Ai Cập, bảo vệ đất nước. Bà cũng đưa những người lưu vong quay trở lại và tập hợp những kẻ đào tẩu;  bình định Thượng Ai Cập và trục xuất những kẻ phiến loạn", theoWikipedia.
nu tuong2
Boudicca (năm 60 hoặc 61 sau công nguyên) là Nữ hoàng bộ tộc Iceni, thuộc miền Đông Vương quốc Anh sống ở thế kỉ I trước công nguyên. Bà đã lãnh đạo một cuộc nổi dậy lớn chống lại quân đội hùng mạnh của đế chế La Mã.
nu tuong3
Tomoe Gozen (1157-1247) là một trong số rất ít nữ võ sĩ samurai trong xã hội Nhật Bản xưa kia. Bà đã tham gia cuộc chiến phe phái Genpei (giai đoạn năm 1180-1185). Theo các tài liệu lịch sử, bà là một phụ nữ vô cùng xinh đẹp. Không chỉ sở hữu nhan sắc "hoa nhường nguyệt thẹn", Tomoe Gozen còn là một cung thủ thiện xạ và là tay kiếm xuất sắc.
nu tuong4
Jeanne d’Arc là một vị thánh bảo hộ của Pháp. Bà từng chỉ huy quân đội Pháp chống lại người Anh trong Cuộc chiến Trăm năm (nhiều cuộc chiến riêng rẽ kéo dài 116 năm). Khi 12 tuổi, Jeanne bắt đầu nghe thấy những tiếng vọng và tin rằng chúng là của các vị thánh Michael, Catherine và Margaret mà Chúa gửi đến cho mình. Và như được chỉ dẫn, Jeanne đã cắt tóc, mặc quân phục của đàn ông và tự vũ trang để sẵn sàng cho chiến trận. Sau khi thuyết phục một hội đồng các nhà thần học về sứ mệnh của mình, Jeanne đã được phong tước chỉ huy và cấp binh sĩ dưới quyền. Jeanne bắt đầu giành chiến thắng liên tiếp khiến tiếng tăm của bà ngày một nổi như cồn. Khi cô tiếp cận một quân đội Anh ở Patay, vị chỉ huy người Anh - John Fastolfe và hầu hết quân của ông ta đã bỏ chạy khỏi chiến trường khi nhận ra tướng dẫn đầu quân đối địch chính là Jeanne. Năm 1430, Jeanne bị bắt và kết tội phù thuỷ. Một năm sau đó, khi mới 19 tuổi, bà bị thiêu sống. 
nu tuong5
Agustina de Aragon (1786 – 1857) là một nữ anh hùng người Tây Ban Nha, người còn được mệnh danh "Nữ thánh Jeanne d’Arc của Tây Ban Nha" vì đóng góp trong cuộc chiến bảo vệ độc lập của đất nước. Trong khi quân của Napoleon tấn công thành phố Zaragoza vào ngày 15/6/1808, Agustina mang táo tới để nuôi quân. Khi tới tuyến lửa, cô nhận thấy một số lượng lớn người tình nguyện đang rời bỏ hàng ngũ và thoái lui trước người Pháp. Agustina de Aragon ngay lập tức chạy về phía trước, lắp đạn vào súng đại bác và châm ngòi, đẩy lui một làn sóng kẻ tấn công. Hành động của bà đã truyền cảm hứng cho những người đang bỏ chạy quay trở về vị trí của họ. Tuy nhiên, chỉ vài tuần sau, người Pháp đã quay trở lại và cuối cùng chiếm đóng thành phố. Mặc dù vậy, Agustina đã trở thành một nguồn cảm hứng cho phong trào kháng chiến chống Pháp và trong những năm sau đó được coi là một biểu tượng cho chủ nghĩa nam nữ bình quyền.

Giải mã cuộc pháo kích lớn nhất lịch sử chiến tranh

Trận pháo kích kinh hoàng của Hồng Quân Liên Xô đánh sập Berlin đôi khi được mô tả là "lớn nhất trong lịch sử chiến tranh từ cổ chí kim".
Khi Hồng Quân Liên Xô mở đường tiến đến Berlin vào năm 1945, họ đã gặp phải phòng tuyến Seelow Heights. Đây là hàng rào phòng thủ cuối cùng của Phát Xít Đức với ý đồ cho Hồng Quân phải tắm máu trong thủ đô Berlin, Hitler thậm chí còn tuyên bố rằng Berlin sẽ mất nhưng cái giá của nó không hề rẻ.
Tuy nhiên lúc này quân đội Liên Xô đang trong thế mạnh hơn bao giờ hết, sẵn sàng chiếm lấy Berlin sớm nhất có thể đã sẵn sàng đối đầu với phòng tuyến Seelow này với ưu thế về hỏa lực vượt trội.
Với trang thiết bị và hậu cần đầy đủ, phía Liên Xô không ngần ngại dàn trận với 9.000 khẩu pháo trên một trận địa pháo trải dài 30 km, điều đó đồng nghĩa với việc cứ 3 mét lại có một khẩu pháo.
Giải mã cuộc pháo kích lớn nhất lịch sử chiến tranh
Trận địa pháo dài 30 km của Hồng Quân Liên Xô. Nguồn ảnh: BI.
Rất khó có thể ước tính được số lượng đạn pháo và rocket đã được sử dụng bởi Liên Xô vào ngày 16/4 khi họ mở cuộc tấn công vào phòng tuyết Seelow, hàng rào cuối cùng ngăn cách Berlin với bước tiến vũ bão của Hồng Quân Liên Xô.
Tuy nhiên các nhà sử học ước tính đã có khoảng 500.000 viên đạn pháo được bắn ra từ trận địa pháo khổng lồ này chỉ trong 30 phút đầu tiên của trận chiến. Trong khi đó, hàng rào phòng thủ Seelow chỉ có khoảng 150.000 người, điều đó có nghĩa là mỗi một người lính Đức phải hứng chịu khoảng 4 viên đạn pháo chỉ trong 30 phút đầu tiên của cuộc chiến.
Để tiện so sánh, phía Đồng Minh đã tấn công phòng tuyến Gustav ở Italy vào năm 1944 với khoảng 2.000 khẩu đại bác nã tổng cộng 174.000 viên trong suốt 24 giờ, Quân Anh tại trận Somme ở thế chiến thứ nhất đã nã 1,5 triệu quả đạn pháo với 1.537 khẩu đại bác trong 4 ngày, còn phía Hồng Quân đã nã được 500.000 viên đạn chỉ trong nửa giờ, nghĩa là họ hoàn toàn có khả năng nã đủ 1,5 triệu viên đạn pháo chỉ trong vỏn vẹn 1 giờ 30 phút. Đây được coi là trận pháo kích lớn nhất trong lịch sử chiến tranh từ xưa tới nay.
Đáng tiếc cho Hồng Quân Liên Xô, lối tiến công của họ trong trận này hoàn toàn trùng khớp với học thuyết quân sự của Liên Xô từ thời Nga Hoàng tới nay và đã bị phía Đức "bắt bài". Các chỉ huy Đức đã rút hoàn toàn quân lính của mình ở phòng tuyến đầu tiên về tuyến sau và chỉ để lại một số lượng rất ít binh lính ở phòng tuyến số hai, vậy nên hoàn toàn có thể coi cuộc pháo kích kinh hoàng này của Liên Xô gần như là vô dụng.
Giải mã cuộc pháo kích lớn nhất lịch sử chiến tranh
Binh lính Đức di chuyển về phía sau phòng tuyến tránh đối đầu với trận địa pháo khổng lồ của Liên Xô. Nguồn ảnh: BI
Thậm chí trong hồi ký của mình, Tướng Kuznetsov cũng phải thừa nhận rằng: "Pháo binh của chúng ta (Hồng Quân) đã nghiền nát tất cả mọi thứ ngoại trừ quân địch".
Mặc dù trận pháo kích kéo dài tới 3 đợt liên tục trong một buổi sáng nhưng thông tin báo về chỉ là một số lượng ít ỏi các đơn vị địch bị tiêu diệt một cách lẻ tẻ, ngoài ra phía Hồng Quân còn đánh bật được một vài đơn vị pháo cối, ổ đề kháng súng máy và pháo binh của Đức ở tuyến phòng thủ thứ 2.
Giải mã cuộc pháo kích lớn nhất lịch sử chiến tranh
Xe tăng T-34 của Hồng Quân Liên Xô bị bắn cháy trong trận chiến chiếm phòng tuyến Seelow Heights. Nguồn ảnh: BI.
Sau những đợt nã pháo kinh hoàng sẽ là màn tiến công như vũ bão của lực lượng Bộ binh và Thiết giáp Liên Xô, tuy nhiên tuyến phòng thủ Seelow lại bị chia cắt bởi con sông Ober và một vùng đầm lầy rộng lớn hai bên phía bờ sông khiến lực lượng thiết giáp Liên Xô phải "đánh vật" với bùn lầy và không thể dành được sự chi viện hỏa lực tối đa cho lực lượng bộ binh tiến công.
Tuy nhiên, với số lượng bộ binh đông áp đảo hoàn toàn, phía Hồng Quân đã chiếm được phòng tuyến SeeLow chỉ sau vài ngày với tổn thất 33.000 người so với 12.000 lính Đức ở phía bên kia chiến tuyến.
Dù chịu tổn thất nặng nề nhưng thực sự 33.000 quân vẫn "không thấm vào đâu" so với hơn 2 triệu lính Hồng Quân trên mọi mặt trận đang ùn ùn kéo đến Berlin vào thời điểm đó. Trận chiến tấn công vào tuyến phòng thủ Seelow Heights đã diễn ra trong vỏn vẹn có 4 ngày từ 16/4 đến 19/4/1945, mở tung cửa tiến vào Berlin cho mọi lực lượng Hồng Quân ở mặt trận phía Đông và chỉ hơn nửa tháng sau đó, vào ngày 8/5/1945 phía Phát Xít Đức đã phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Tuesday, 10 January 2017

Chiến thuật 'trực thăng vận' của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam

Ngày 5/7/1961, Biệt đội 57 vận tải chiến thuật" được thành lập với 15 máy bay trực thăng UH-1A tại căn cứ không quân Kadena đặt trên đảo Okinawa.
Nhiệm vụ của biệt đội này là nghiên cứu và thực hành phương pháp đưa binh lính đến những vùng chiến sự một cách nhanh nhất, bất ngờ nhất khiến đối phương không kịp trở tay, đồng thời tấn công các mục tiêu trên mặt đất và yểm trợ các loại trực thăng vận tải khác. Tất cả những việc nói trên được gọi là chiến thuật "trực thăng vận".
Thế nhưng chỉ trong 4 năm (1961 - 1965), chiến thuật "trực thăng vận" đã phải phá sản với gần 160 chiếc "gãy cánh", hơn 200 thành viên phi hành đoàn thương vong hoặc mất tích, hoặc bị bắt làm tù binh…

Sự ra đời của chiến thuật "trực thăng vận"

Nói một cách chính xác, ý tưởng về chiến thuật "trực thăng vận" trong chiến tranh Việt Nam đã được các tướng lĩnh Mỹ thai nghén từ trước khi Biệt đội 57 ra đời.
Nó bắt nguồn từ cuộc chiến Triều Tiên, khi những chiếc trực thăng Piasecki H21 (mà lính Mỹ thường gọi là "quả chuối bay" vì hình dạng của nó nhìn tương tự như một quả chuối), dễ dàng đổ quân xuống những vùng rừng núi hiểm trở, nơi xe tăng, xe vận tải khó có thể vào được.
Trong buổi họp với những cố vấn cao cấp Mỹ và các tướng lĩnh quân đội Việt Nam Cộng hòa, tổ chức vào tháng 6-1961 ở Sài Gòn, Đại tướng Paul D. Harkins, Chỉ huy trưởng Phái bộ cố vấn quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam (MACV) đã nói:
"Chiến thắng ở tỉnh Hậu Nghĩa (nay là hai huyện Đức Hòa, Đức Huệ, tỉnh Long An) là một điển hình cho sự thành công của việc vận chuyển binh lính bằng máy bay trực thăng. Việt Cộng chỉ có hai bàn chân, họ không thể chạy nhanh nên cần thiết phải mau chóng phát triển hình thái tác chiến ấy".
"Chiến thắng Hậu Nghĩa" mà Paul D. Harkins nhắc đến chính là trận đụng độ giữa quân đội Việt Nam Cộng hòa được đưa đến bằng trực thăng và một nhóm nhỏ du kích Quân Giải phóng.
Trước đó, tháng 5-1961, tàu vận tải USNS T-AKV-41 chở theo 82 máy bay trực thăng Piasecki H21 cùng đội ngũ phi công cập cảng Sài Gòn. 12 ngày sau, hơn 600 lính Dù được những chiếc trực thăng này thả xuống một khu vực thuộc tỉnh Hậu Nghĩa, giáp với biên giới Campuchia, nơi tin tình báo cho biết có sự xuất hiện của một đơn vị "Việt Cộng".
Bị rơi vào thế bất ngờ, đồng thời yếu hơn về quân số và vũ khí, nhóm du kích Quân Giải phóng nhanh chóng rút lui để bảo toàn lực lượng. Lính Dù tìm thấy vài hầm ngầm cùng mấy khẩu súng từ thời kháng chiến chống Pháp đã hư hỏng; nhưng một số tờ báo xuất bản ở Sài Gòn hồi đó đã "thổi" lên: "Hàng chục Cộng quân bị tiêu diệt, nhiều loại vũ khí, đạn dược bị tịch thu".
Quan điểm "nhanh chóng phát triển hình thái tác chiến bằng trực thăng" của Paul D. Harkins được sự ủng hộ nhiệt liệt của tướng William Childs Westmoreland, lúc ấy là Giám đốc Học viện quân sự West Point (tháng 7-1963, ông ta được cử giữ chức Tư lệnh phó MACV, dưới quyền Paul D. Harkins.
Đến tháng 8/1964, Westmoreland thay Paul D. Harkins, làm Tư lệnh MACV, hàm Đại tướng). Trong một báo cáo gửi Bộ Quốc phòng Mỹ, Paul D. Harkins nhận định địa hình miền Nam Việt Nam và những hình thức mà Quân Giải phóng tiến hành chiến tranh du kích, hoàn toàn phù hợp với chiến thuật "trực thăng vận", đồng thời đề xuất Lầu Năm Góc chấp thuận cho thành lập một đơn vị thí điểm.

Chiến thuật
Lính Mỹ và chiếc UH-1B bị Quân Giải phóng bắn hạ.
Và thế là "Biệt đội 57" ra đời. Lúc này, loại trực thăng UH-1A Iroquois do hãng Bell Helicopter chế tạo (Iroquois là tên của một bộ lạc da đỏ ở Mỹ nhưng lính Mỹ thường gọi loại máy bay ấy là "Huey"), bay lần đầu vào tháng 3-1960.
Được trang bị một động cơ piston công suất 670 mã lực, tốc độ tối đa 198km/giờ, bay cao 3.600m, hoạt động trong phạm vi 450km, UH-1A có thể chở được 10 lính. Trước yêu cầu của Bộ Quốc phòng Mỹ, sau một số cải tiến về động cơ, vũ khí và bình chứa nhiên liệu để có thể bay nhanh hơn, xa hơn, ngày 15-10-1961, 15 chiếc UH-1A được giao cho "Biệt đội 57".
Tháng 11/1961, Biệt đội 57 di chuyển đến sân bay U Don, Thái Lan. Tại đây, phi công thực tập những bài đổ quân xuống những sườn núi cheo leo hoặc những bãi sình lầy và thậm chí ngay trên mặt sông, tập tấn công các mục tiêu cố định, di động trên mặt đất bằng tên lửa và súng máy, tập hạ cánh để bốc người lên trong trường hợp bị đối phương bắn chặn…
Ngày 21/10/1962, Biệt đội 57 đến sân bay Tân Sơn Nhất, Sài Gòn. 9 ngày sau, 6 trong số 15 chiếc UH-1A thực hiện phi vụ đầu tiên là hộ tống một phi đội Piasecki H21 đổ quân xuống một địa điểm nằm ở phía tây, cách Sài Gòn 18km.
Trung úy John Wallace, phi công của một trong 6 chiếc UH-1A nhớ lại: "Tất cả những chiếc máy bay của chúng tôi đều được vũ trang bằng 2 ống phóng tên lửa cỡ 2,75-inch và 2 súng máy 7,62mm. Trước lúc những "quả chuối bay" đáp xuống, chúng tôi lần lượt phóng tên lửa và bắn súng máy vào những địa điểm khả nghi. Việc đổ quân hoàn tất. Không thấy đối phương bắn trả một phát nào".
Phi vụ thứ nhì, sáng sớm ngày 6-11-1962, toàn bộ Biệt đội 57 được huy động. 10 chiếc UH-1A chở theo một đại đội lính Dù, 5 chiếc còn lại bay hộ tống, đổ quân xuống Mã Đà (nay thuộc tỉnh Đồng Nai) để càn quét vào nơi mà tin tình báo cho là "mật khu của Việt Cộng".
Kết quả sau một trận chạm súng ngắn ngủi, cả hai bên không ai thương vong, du kích Quân Giải phóng rút về hướng bắc, lính Dù đốt cháy một số chòi lá cùng một ít gạo, bắp khô, thu một lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đến 16 giờ cùng ngày, 9 chiếc trực thăng hạ cánh, đưa lính Dù về lại sân bay Biên Hòa.
Trước những thành công ấy, MACV quyết định thành lập một căn cứ cố định, gọi là Trại Holloway, phục vụ cho chiến thuật "trực thăng vận", đặt ở ngoại vi thị xã Pleiku, Tây Nguyên.
Chỉ một thời gian ngắn, lực lượng Mỹ ở Holloway đã có Trung đoàn trực thăng vận tải chiến đấu số 52, trang bị toàn UH-1A, một tiểu đoàn trực thăng vận tải Chinook CH-47, ba đại đội trực thăng tải thương số hiệu 94, 519 và 755, một đại đội máy bay trinh sát O-1 Bird Dog cùng 2 trực thăng "cần cẩu bay" khổng lồ CH-54 Skycrane.
Với số lượng như thế, cùng một lúc Trại Holloway có thể vận chuyển 1 tiểu đoàn, khoảng 400 lính đến những nơi nghi ngờ có sự hoạt động của Quân Giải phóng.
Thiếu úy McCulloch, phi công lái chiếc UH-1A thuộc Trung đoàn 52 kể: "Chúng tôi phụ trách bốn tỉnh cao nguyên là Darlac, Pleiku, Kontum và Đà Lạt (tên do chế độ Sài Gòn đặt, nay là Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng).
Thường thì khi nhận được tin có Vi Xi (tiếng lóng lính Mỹ dùng để gọi tắt hai chữ Việt Cộng) xuất hiện ở nơi nào đó, chúng tôi đổ quân xuống và yểm trợ họ bằng hỏa lực từ trên không để họ tìm và diệt".

Nếm mùi lửa đạn

Cuối năm 1962, sau nhiều cuộc "tập dượt", Quân đội Mỹ xây dựng một phương án chuẩn trong việc sử dụng máy bay UH-1A phục vụ chiến thuật "trực thăng vận".
Theo phương án này, mỗi phi vụ đổ quân có 1 trực thăng chỉ huy, gọi là COC và tùy theo số lượng binh lính tham gia, có thể có từ 10 đến 50 chiếc UH-1A chở lính, 5 hoặc 15 trực thăng vũ trang UH-1A bay theo yểm trợ. Ngoài ra còn có vài chiếc UH khác làm nhiệm vụ cấp cứu, tải thương.
Chiến thuật
Trại Holloway trước ngày bị Quân Giải phóng tiến công.
Đến năm 1964, bên cạnh những chiếc UH-1A, quân Mỹ được bổ sung thêm loại UH-1B - rồi sau đó là UH-1D, ống xả quay ngược lên trời để tránh tên lửa tầm nhiệt của Quân Giải phóng. 2 loại này mỗi chiếc chở được 12 lính hoặc 6 cáng cứu thương, tốc độ bay cũng tăng lên 215km/giờ. Súng máy 7,62mm được thay bằng minigun 6 nòng, mỗi phút bắn ra 3.000 viên đạn.
Ngày 8/2/1965, một tiểu đoàn tên lửa Hawk của lính thủy đánh bộ Mỹ từ đảo Okinawa chuyển đến Đà Nẵng để thiết lập hệ thống phòng thủ bờ biển. Đúng một tháng sau, lúc 9 giờ sáng ngày 8-3-1965, tiểu đoàn 3 thuộc Lữ đoàn lính thủy đánh bộ số 9 đặt chân lên bờ biển từ Phú Lộc đến Xuân Thiều (nay thuộc quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng).
Chiều cùng ngày, cầu không vận đưa tiểu đoàn 2 cũng từ Okinawa đáp xuống sân bay Đà Nẵng. Tổng số quân từ các lần đổ bộ của Lữ đoàn 9 là khoảng 3.500 lính. Chỉ tính riêng máy bay trực thăng, biên chế thuộc lữ đoàn này có 60 chiếc UH-1B.
Từ đó cho đến giữa năm 1972, vào những lúc cao điểm, có hơn 3.900 trực thăng hoạt động từ Quảng Trị đến Cà Mau, 2/3 trong số đó là UH-1B và 1D.
Theo sự bố trí của MACV, mỗi lữ đoàn bộ binh Mỹ đều có 1 đại đội trực thăng. 1 sư đoàn có một tiểu đoàn trực thăng (từ 100 đến 120 chiếc nếu là sư đoàn kỵ binh không vận), chia thành các đơn vị trinh sát, chở quân, hỏa lực và tải thương, tiếp vận.
Trang bị cho đơn vị trinh sát thường là trực thăng "cán gáo" OH-6A hoặc OÍ-58D, vận tải là UH-1B, 1D còn hỏa lực là AH1 Cobra (rắn hổ mang), UH- 1B, 1D. Riêng tiếp vận thì dùng CH54 hoặc CH47.
Thời gian đầu, Quân Giải phóng gặp phải một số thiệt hại vì chiến thuật "trực thăng vận" nhưng không lâu sau đó, họ đã sáng tạo ra nhiều cách đánh. Klaus Vinski, phi công Sư đoàn Kỵ binh không vận số 1 kể:
"Đáng sợ nhất là họ đặt mìn định hướng ở dưới đất. Khi chúng tôi hạ thấp xuống để đổ quân thì họ cho nổ mìn, thổi ngược lên. Ở những vùng rừng núi trên cao nguyên, họ còn đặt mìn định hướng trên ngọn cây, nổ chụp xuống những chiếc trực thăng đang tiếp đất".
Quyết không để đám "giặc nhà trời" tung hoành ngang ngược, 23 giờ ngày 6-2-1965, Tiểu đoàn 409 Quân Giải phóng bí mật tiếp cận hàng rào Trại Holloway, được bảo vệ bởi một tiểu đoàn Biệt Động quân Sài Gòn cùng 5 đại đội bộ binh và một chi đoàn xe bọc thép.
Bên cạnh đó, Trại Holloway còn có nhiều lớp hàng rào kẽm gai cao 10m, mìn chiếu sáng và mìn bẫy. Trung sĩ Stevenson, thuộc đội Quân cảnh tuần tra bảo vệ sân bay kể:
"Họ vào bằng 3 hướng. Điều xui xẻo nhất với chúng tôi là lúc họ cắt hàng rào, một ai đó đã vô tình vướng vào dây bẫy của một quả mìn chiếu sáng. Mìn nổ, cả một góc trời sáng rực nhưng đội Quân cảnh tuần tra lại cho rằng có thể chỉ do một con chuột nào đó gây ra".
Stevenson kể tiếp: "Sau khi cắt xong hàng rào, súng cối của họ bắn liên tục vào các vị trí phòng thủ mà theo tôi, họ đã nghiên cứu kỹ lưỡng từ trước.
Lúc tiếng súng vừa dứt, một mũi của họ đánh vào sở chỉ huy, trung tâm truyền tin, khu nhà ở của phi công, thợ máy và chuyên viên kỹ thuật, một mũi khác đánh vào các nhà chứa máy bay còn mũi thứ ba đánh vào kho chứa bom đạn, xăng dầu".
Cuộc tấn công chỉ kéo dài đúng 5 phút tính từ lúc những chiến sĩ Quân Giải phóng xông vào Trại Holloway. Kết quả 8 lính Mỹ chết tại chỗ, trong đó có 5 phi công, 126 người khác bị thương, 10 trực thăng bị phá hủy, 15 chiếc khác hư hỏng nặng, hàng chục căn nhà bốc cháy, nhiều nhà khác tan tành vì đạn cối.
Chưa hết, khi Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 Việt Nam Cộng hòa gửi quân đến cứu viện thì lại bị Quân Giải phóng phục kích, 26 lính chết, 47 người bị thương, 6 xe vận tải quân sự cháy rụi.