Tuesday, 10 January 2017

Chiến thuật 'trực thăng vận' của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam

Ngày 5/7/1961, Biệt đội 57 vận tải chiến thuật" được thành lập với 15 máy bay trực thăng UH-1A tại căn cứ không quân Kadena đặt trên đảo Okinawa.
Nhiệm vụ của biệt đội này là nghiên cứu và thực hành phương pháp đưa binh lính đến những vùng chiến sự một cách nhanh nhất, bất ngờ nhất khiến đối phương không kịp trở tay, đồng thời tấn công các mục tiêu trên mặt đất và yểm trợ các loại trực thăng vận tải khác. Tất cả những việc nói trên được gọi là chiến thuật "trực thăng vận".
Thế nhưng chỉ trong 4 năm (1961 - 1965), chiến thuật "trực thăng vận" đã phải phá sản với gần 160 chiếc "gãy cánh", hơn 200 thành viên phi hành đoàn thương vong hoặc mất tích, hoặc bị bắt làm tù binh…

Sự ra đời của chiến thuật "trực thăng vận"

Nói một cách chính xác, ý tưởng về chiến thuật "trực thăng vận" trong chiến tranh Việt Nam đã được các tướng lĩnh Mỹ thai nghén từ trước khi Biệt đội 57 ra đời.
Nó bắt nguồn từ cuộc chiến Triều Tiên, khi những chiếc trực thăng Piasecki H21 (mà lính Mỹ thường gọi là "quả chuối bay" vì hình dạng của nó nhìn tương tự như một quả chuối), dễ dàng đổ quân xuống những vùng rừng núi hiểm trở, nơi xe tăng, xe vận tải khó có thể vào được.
Trong buổi họp với những cố vấn cao cấp Mỹ và các tướng lĩnh quân đội Việt Nam Cộng hòa, tổ chức vào tháng 6-1961 ở Sài Gòn, Đại tướng Paul D. Harkins, Chỉ huy trưởng Phái bộ cố vấn quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam (MACV) đã nói:
"Chiến thắng ở tỉnh Hậu Nghĩa (nay là hai huyện Đức Hòa, Đức Huệ, tỉnh Long An) là một điển hình cho sự thành công của việc vận chuyển binh lính bằng máy bay trực thăng. Việt Cộng chỉ có hai bàn chân, họ không thể chạy nhanh nên cần thiết phải mau chóng phát triển hình thái tác chiến ấy".
"Chiến thắng Hậu Nghĩa" mà Paul D. Harkins nhắc đến chính là trận đụng độ giữa quân đội Việt Nam Cộng hòa được đưa đến bằng trực thăng và một nhóm nhỏ du kích Quân Giải phóng.
Trước đó, tháng 5-1961, tàu vận tải USNS T-AKV-41 chở theo 82 máy bay trực thăng Piasecki H21 cùng đội ngũ phi công cập cảng Sài Gòn. 12 ngày sau, hơn 600 lính Dù được những chiếc trực thăng này thả xuống một khu vực thuộc tỉnh Hậu Nghĩa, giáp với biên giới Campuchia, nơi tin tình báo cho biết có sự xuất hiện của một đơn vị "Việt Cộng".
Bị rơi vào thế bất ngờ, đồng thời yếu hơn về quân số và vũ khí, nhóm du kích Quân Giải phóng nhanh chóng rút lui để bảo toàn lực lượng. Lính Dù tìm thấy vài hầm ngầm cùng mấy khẩu súng từ thời kháng chiến chống Pháp đã hư hỏng; nhưng một số tờ báo xuất bản ở Sài Gòn hồi đó đã "thổi" lên: "Hàng chục Cộng quân bị tiêu diệt, nhiều loại vũ khí, đạn dược bị tịch thu".
Quan điểm "nhanh chóng phát triển hình thái tác chiến bằng trực thăng" của Paul D. Harkins được sự ủng hộ nhiệt liệt của tướng William Childs Westmoreland, lúc ấy là Giám đốc Học viện quân sự West Point (tháng 7-1963, ông ta được cử giữ chức Tư lệnh phó MACV, dưới quyền Paul D. Harkins.
Đến tháng 8/1964, Westmoreland thay Paul D. Harkins, làm Tư lệnh MACV, hàm Đại tướng). Trong một báo cáo gửi Bộ Quốc phòng Mỹ, Paul D. Harkins nhận định địa hình miền Nam Việt Nam và những hình thức mà Quân Giải phóng tiến hành chiến tranh du kích, hoàn toàn phù hợp với chiến thuật "trực thăng vận", đồng thời đề xuất Lầu Năm Góc chấp thuận cho thành lập một đơn vị thí điểm.

Chiến thuật
Lính Mỹ và chiếc UH-1B bị Quân Giải phóng bắn hạ.
Và thế là "Biệt đội 57" ra đời. Lúc này, loại trực thăng UH-1A Iroquois do hãng Bell Helicopter chế tạo (Iroquois là tên của một bộ lạc da đỏ ở Mỹ nhưng lính Mỹ thường gọi loại máy bay ấy là "Huey"), bay lần đầu vào tháng 3-1960.
Được trang bị một động cơ piston công suất 670 mã lực, tốc độ tối đa 198km/giờ, bay cao 3.600m, hoạt động trong phạm vi 450km, UH-1A có thể chở được 10 lính. Trước yêu cầu của Bộ Quốc phòng Mỹ, sau một số cải tiến về động cơ, vũ khí và bình chứa nhiên liệu để có thể bay nhanh hơn, xa hơn, ngày 15-10-1961, 15 chiếc UH-1A được giao cho "Biệt đội 57".
Tháng 11/1961, Biệt đội 57 di chuyển đến sân bay U Don, Thái Lan. Tại đây, phi công thực tập những bài đổ quân xuống những sườn núi cheo leo hoặc những bãi sình lầy và thậm chí ngay trên mặt sông, tập tấn công các mục tiêu cố định, di động trên mặt đất bằng tên lửa và súng máy, tập hạ cánh để bốc người lên trong trường hợp bị đối phương bắn chặn…
Ngày 21/10/1962, Biệt đội 57 đến sân bay Tân Sơn Nhất, Sài Gòn. 9 ngày sau, 6 trong số 15 chiếc UH-1A thực hiện phi vụ đầu tiên là hộ tống một phi đội Piasecki H21 đổ quân xuống một địa điểm nằm ở phía tây, cách Sài Gòn 18km.
Trung úy John Wallace, phi công của một trong 6 chiếc UH-1A nhớ lại: "Tất cả những chiếc máy bay của chúng tôi đều được vũ trang bằng 2 ống phóng tên lửa cỡ 2,75-inch và 2 súng máy 7,62mm. Trước lúc những "quả chuối bay" đáp xuống, chúng tôi lần lượt phóng tên lửa và bắn súng máy vào những địa điểm khả nghi. Việc đổ quân hoàn tất. Không thấy đối phương bắn trả một phát nào".
Phi vụ thứ nhì, sáng sớm ngày 6-11-1962, toàn bộ Biệt đội 57 được huy động. 10 chiếc UH-1A chở theo một đại đội lính Dù, 5 chiếc còn lại bay hộ tống, đổ quân xuống Mã Đà (nay thuộc tỉnh Đồng Nai) để càn quét vào nơi mà tin tình báo cho là "mật khu của Việt Cộng".
Kết quả sau một trận chạm súng ngắn ngủi, cả hai bên không ai thương vong, du kích Quân Giải phóng rút về hướng bắc, lính Dù đốt cháy một số chòi lá cùng một ít gạo, bắp khô, thu một lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đến 16 giờ cùng ngày, 9 chiếc trực thăng hạ cánh, đưa lính Dù về lại sân bay Biên Hòa.
Trước những thành công ấy, MACV quyết định thành lập một căn cứ cố định, gọi là Trại Holloway, phục vụ cho chiến thuật "trực thăng vận", đặt ở ngoại vi thị xã Pleiku, Tây Nguyên.
Chỉ một thời gian ngắn, lực lượng Mỹ ở Holloway đã có Trung đoàn trực thăng vận tải chiến đấu số 52, trang bị toàn UH-1A, một tiểu đoàn trực thăng vận tải Chinook CH-47, ba đại đội trực thăng tải thương số hiệu 94, 519 và 755, một đại đội máy bay trinh sát O-1 Bird Dog cùng 2 trực thăng "cần cẩu bay" khổng lồ CH-54 Skycrane.
Với số lượng như thế, cùng một lúc Trại Holloway có thể vận chuyển 1 tiểu đoàn, khoảng 400 lính đến những nơi nghi ngờ có sự hoạt động của Quân Giải phóng.
Thiếu úy McCulloch, phi công lái chiếc UH-1A thuộc Trung đoàn 52 kể: "Chúng tôi phụ trách bốn tỉnh cao nguyên là Darlac, Pleiku, Kontum và Đà Lạt (tên do chế độ Sài Gòn đặt, nay là Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng).
Thường thì khi nhận được tin có Vi Xi (tiếng lóng lính Mỹ dùng để gọi tắt hai chữ Việt Cộng) xuất hiện ở nơi nào đó, chúng tôi đổ quân xuống và yểm trợ họ bằng hỏa lực từ trên không để họ tìm và diệt".

Nếm mùi lửa đạn

Cuối năm 1962, sau nhiều cuộc "tập dượt", Quân đội Mỹ xây dựng một phương án chuẩn trong việc sử dụng máy bay UH-1A phục vụ chiến thuật "trực thăng vận".
Theo phương án này, mỗi phi vụ đổ quân có 1 trực thăng chỉ huy, gọi là COC và tùy theo số lượng binh lính tham gia, có thể có từ 10 đến 50 chiếc UH-1A chở lính, 5 hoặc 15 trực thăng vũ trang UH-1A bay theo yểm trợ. Ngoài ra còn có vài chiếc UH khác làm nhiệm vụ cấp cứu, tải thương.
Chiến thuật
Trại Holloway trước ngày bị Quân Giải phóng tiến công.
Đến năm 1964, bên cạnh những chiếc UH-1A, quân Mỹ được bổ sung thêm loại UH-1B - rồi sau đó là UH-1D, ống xả quay ngược lên trời để tránh tên lửa tầm nhiệt của Quân Giải phóng. 2 loại này mỗi chiếc chở được 12 lính hoặc 6 cáng cứu thương, tốc độ bay cũng tăng lên 215km/giờ. Súng máy 7,62mm được thay bằng minigun 6 nòng, mỗi phút bắn ra 3.000 viên đạn.
Ngày 8/2/1965, một tiểu đoàn tên lửa Hawk của lính thủy đánh bộ Mỹ từ đảo Okinawa chuyển đến Đà Nẵng để thiết lập hệ thống phòng thủ bờ biển. Đúng một tháng sau, lúc 9 giờ sáng ngày 8-3-1965, tiểu đoàn 3 thuộc Lữ đoàn lính thủy đánh bộ số 9 đặt chân lên bờ biển từ Phú Lộc đến Xuân Thiều (nay thuộc quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng).
Chiều cùng ngày, cầu không vận đưa tiểu đoàn 2 cũng từ Okinawa đáp xuống sân bay Đà Nẵng. Tổng số quân từ các lần đổ bộ của Lữ đoàn 9 là khoảng 3.500 lính. Chỉ tính riêng máy bay trực thăng, biên chế thuộc lữ đoàn này có 60 chiếc UH-1B.
Từ đó cho đến giữa năm 1972, vào những lúc cao điểm, có hơn 3.900 trực thăng hoạt động từ Quảng Trị đến Cà Mau, 2/3 trong số đó là UH-1B và 1D.
Theo sự bố trí của MACV, mỗi lữ đoàn bộ binh Mỹ đều có 1 đại đội trực thăng. 1 sư đoàn có một tiểu đoàn trực thăng (từ 100 đến 120 chiếc nếu là sư đoàn kỵ binh không vận), chia thành các đơn vị trinh sát, chở quân, hỏa lực và tải thương, tiếp vận.
Trang bị cho đơn vị trinh sát thường là trực thăng "cán gáo" OH-6A hoặc OÍ-58D, vận tải là UH-1B, 1D còn hỏa lực là AH1 Cobra (rắn hổ mang), UH- 1B, 1D. Riêng tiếp vận thì dùng CH54 hoặc CH47.
Thời gian đầu, Quân Giải phóng gặp phải một số thiệt hại vì chiến thuật "trực thăng vận" nhưng không lâu sau đó, họ đã sáng tạo ra nhiều cách đánh. Klaus Vinski, phi công Sư đoàn Kỵ binh không vận số 1 kể:
"Đáng sợ nhất là họ đặt mìn định hướng ở dưới đất. Khi chúng tôi hạ thấp xuống để đổ quân thì họ cho nổ mìn, thổi ngược lên. Ở những vùng rừng núi trên cao nguyên, họ còn đặt mìn định hướng trên ngọn cây, nổ chụp xuống những chiếc trực thăng đang tiếp đất".
Quyết không để đám "giặc nhà trời" tung hoành ngang ngược, 23 giờ ngày 6-2-1965, Tiểu đoàn 409 Quân Giải phóng bí mật tiếp cận hàng rào Trại Holloway, được bảo vệ bởi một tiểu đoàn Biệt Động quân Sài Gòn cùng 5 đại đội bộ binh và một chi đoàn xe bọc thép.
Bên cạnh đó, Trại Holloway còn có nhiều lớp hàng rào kẽm gai cao 10m, mìn chiếu sáng và mìn bẫy. Trung sĩ Stevenson, thuộc đội Quân cảnh tuần tra bảo vệ sân bay kể:
"Họ vào bằng 3 hướng. Điều xui xẻo nhất với chúng tôi là lúc họ cắt hàng rào, một ai đó đã vô tình vướng vào dây bẫy của một quả mìn chiếu sáng. Mìn nổ, cả một góc trời sáng rực nhưng đội Quân cảnh tuần tra lại cho rằng có thể chỉ do một con chuột nào đó gây ra".
Stevenson kể tiếp: "Sau khi cắt xong hàng rào, súng cối của họ bắn liên tục vào các vị trí phòng thủ mà theo tôi, họ đã nghiên cứu kỹ lưỡng từ trước.
Lúc tiếng súng vừa dứt, một mũi của họ đánh vào sở chỉ huy, trung tâm truyền tin, khu nhà ở của phi công, thợ máy và chuyên viên kỹ thuật, một mũi khác đánh vào các nhà chứa máy bay còn mũi thứ ba đánh vào kho chứa bom đạn, xăng dầu".
Cuộc tấn công chỉ kéo dài đúng 5 phút tính từ lúc những chiến sĩ Quân Giải phóng xông vào Trại Holloway. Kết quả 8 lính Mỹ chết tại chỗ, trong đó có 5 phi công, 126 người khác bị thương, 10 trực thăng bị phá hủy, 15 chiếc khác hư hỏng nặng, hàng chục căn nhà bốc cháy, nhiều nhà khác tan tành vì đạn cối.
Chưa hết, khi Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 Việt Nam Cộng hòa gửi quân đến cứu viện thì lại bị Quân Giải phóng phục kích, 26 lính chết, 47 người bị thương, 6 xe vận tải quân sự cháy rụi.

'Bí ẩn' vũ khí kinh hoàng B52 của Mỹ vừa bị 'rụng' động cơ

Máy bay B52 của Mỹ thuộc bộ 3 máy bay chiến lược hạng nặng hiện đại nhất của Không quân Mỹ. Tuy nhiên chiếc máy bay này vừa bị “rụng” động cơ khi diễn tập.

Vũ khí linh hoạt nhất

Báo Đất Việt đưa tin, theo tờ Defense News hôm 4/1, trong khi diễn tập tại căn cứ không quân Minot ở Bắc Dakota, động cơ của chiếc B52 đã bất ngờ rơi khỏi máy bay. Không quân Mỹ cho biết, sau khi xảy ra sự cố đặc biệt nghiêm trọng này, máy bay cùng với phi hành đoàn 5 người đã hạ cánh an toàn.
Được biết, máy bay B52 được quảng cáo là thứ vũ khí linh hoạt nhất trong bộ ba vũ khí chiến lược của Mỹ: tên lửa tầm xa, tàu ngầm hạt nhân và máy bay ném bom chiến lược. B52 được miêu tả là trút bom như mưa, tiếng bom rơi xé không khí, gầm rít ghê rợn như dông bão.
'Bí ẩn' vũ khí kinh hoàng B52 của Mỹ vừa bị
Máy bay B52 của Mỹ. Ảnh: Kiến Thức
Hiện tại, không quan Mỹ đang sở hữu 76 “pháo đài bay B52 với độ tuổi trung bình là 50 năm, 63 chiếc B-1 Lancers 28 năm tuổi và 20 chiếc B-2 Spirits đã hoạt động hơn 20 năm.
Mỗi máy bay ném bom của Không quân Mỹ có thể mang theo một lượng vũ khí nhất định với tầm hoạt động không tiếp nhiên liệu là 9.600 km. B52 là máy bay ném bom duy nhất có khả năng mang theo tên lửa hành trình, trong khi B-1 là máy bay ném bom siêu âm duy nhất và B-2 là máy bay tàng hình duy nhất của Mỹ.

Tốc độ bay khủng nhất

Thông tin trên báo Kiến Thức, máy bay B52 là loại máy bay ném bom phản lực hạng nặng do hãng Boeing sản xuất theo đơn đặt hàng của Lầu Năm Góc để làm nhiệm vụ ném bom hạt nhân trong chiến tranh toàn cầu. Những năm đầu thế kỷ 21, B52 vẫn là vũ khí chiến lược và được trang bị tên lửa hành trình loại AGM-86B để tiến công từ xa với cự ly 2.500 km.
Tải trọng vũ khí của B52 là 18 - 30 tấn bom. B52 có thể mang 12-20 tên lửa hành trình ALCM hoặc 8 tên lửa hành trình ACM (tàng hình), 4 pháo 20 mm hoặc một pháo 20 mm 6 nòng.
Máy bay B52 được trang bị thiết bị tác chiến điện tử và 12-16 máy gây nhiễu tích cực. B52 còn được trang bị tên lửa chống ra đa, 21 bộ thiết bị phóng nhiễu tiêu cực, 12 bộ thiết bị gây nhiễu hồng ngoại, hệ thống quan sát vô tuyến truyền hình, quan sát hồng ngoại, hệ thống dẫn đường từ vệ tinh, hệ thống quan sát quang điện tử, ra đa cảnh giới, máy tính điện tử...
B52 có thể bay liên tục 9 giờ không cần tiếp dầu. Nếu được tiếp dầu, B52 có thể bay xa hơn (ví dụ từ Guam đến Hà Nội là 10.000 km rồi quay trở về) hoặc có thể vượt chặng đường 18.000 - 20.000 km.
'Bí ẩn' vũ khí kinh hoàng B52 của Mỹ vừa bị

Máy bay B52 có thể bay liên tục 9 giờ không cần tiếp dầu.

Một phi vụ máy bay B52 có thể hủy diệt cả một khu vực rộng lớn. Một tốp 3 chiếc B52 sẽ biến một diện tích hơn 2 km2 thành bình địa... Không một sinh vật nào có thể tồn tại nổi dưới sức công phá ghê gớm của bom B52. Đối phương sẽ bị hủy diệt về quân sự, khiếp đảm về tinh thần, bởi vì họ cảm thấy hoàn toàn bất lực trước sức mạnh tàn phá ghê gớm của B52 mà họ không có cách gì chống đỡ nổi.

Cường độ xuất kích cao nhất

Trong chiến tranh Việt Nam, máy bay Mỹ đạt cường độ xuất kích cao nhất là 465 lần/chiếc (ngày 19/12/1972), còn trung bình là 300-400 lần. Riêng F-111 xuất kích trung bình 17-19 lần/đêm, cao nhất là 25 lần/đêm (20/12/1972).
Tổng số bom đạn sử dụng xấp xỉ 15.000 tấn. Theo một số tài liệu nước ngoài, Mỹ sử dụng 209 máy bay B52 xuất kích 740 tới mục tiêu đánh phá, ném 49.000 quả bom (xấp xỉ 13.605 tấn) vào 34 mục tiêu. Không quân chiến thuật xuất kích 2.123 lần, trong đó có 1.082 lần vào ban đêm, 1.041 lần vào ban ngày. Riêng máy bay KC-135 (tiếp dầu) bay trên 1.300 lần chiếc để tiếp dầu trên không.
Trong thời gian 8 năm 2 tháng, B52 thực hiện 124.532 phi vụ, ném 2.674.745 tấn bom, nhiều hơn cả số bom mà Mỹ sử dụng trong đại chiến Thế giới thứ 2 (2.057.000 tấn). Năm 1965, mỗi tháng B52 thực hiện 300 phi vụ thì năm 1966 là 600 - 800 phi vụ/tháng và năm 1968 ở khu vực Khe Sanh là 1.800 phi vụ/ tháng. Năm 1972 Mỹ sử dụng tới 200 chiếc B52, tháng 5/1972 thực hiện 3.150 phi vụ ném bom B52/ tháng, trung bình mỗi ngày 105 phi vụ B52.

Những lần thất bại kinh hoàng nhất của máy bay B52

Năm 1961, một chiếc B52G bị nổ trong không trung trên bầu trời Goldsboro. Hai quả bom hạt nhân trong khoang đã rơi xuống trong quá trình đó nhưng rất may không phát nổ. Sau khi các quả bom được thu hồi, Không quân Mỹ phát hiện 5 trong số 6 giai đoạn của chuỗi trình tự kích hoạt quả bom đã sẵn sàng.
'Bí ẩn' vũ khí kinh hoàng B52 của Mỹ vừa bị
Máy bay B52 bị hạ gục trong một trận chiến. Ảnh: VTC News
Cuối tháng 12/1972, Mỹ đã huy động tới 200 chiếc B52 cùng hàng nghìn tiêm kích chiến đấu, tấn công mặt đất khác trong cuộc không kích khổng lồ mang tên “Lai-nơ-bếch-cơ II” vào miền Bắc Việt Nam. Tại đây, B52 chịu những tổn thất nặng nề và được xem là thất bại cay đắng nhất của B52 trong lịch sử tồn tại.
Sau năm 1991, 365 chiếc B52 đã bị phá hủy do hiệp ước START. Các máy bay này đã được tháo dỡ các bộ phận sử dụng và được cắt làm 5 mảnh với trọng lượng mỗi mảnh là 13.000 pound và được bán “đồng nát” với giá 12 cent một pound.