Tàu sân bay thứ ba của Trung Quốc sẽ sử dụng hệ thống máy phóng máy bay, thay cho loại đường bay cất cánh kiểu nhảy cầu ở các phiên bản cũ.
Hai phiên bản đầu sử dụng đường băng thiết kế giúp máy bay cất cánh kiểu nhảy cầu, nhưng phiên bản thứ ba không bao gồm cấu trúc này. Điều đó cho thấy, nhiều khả năng Bắc Kinh sử dụng hệ thống phóng máy bay.
Theo tạp chí quốc phòng JHS Jane’s, ảnh vệ tinh chụp từ căn cứ không quân Huangdicun cho thấy việc xây dựng 2 hệ thống phóng máy bay. Một hệ thống có thể sử dụng sức hơi, hệ thống còn lại có thể sử dụng điện từ.
Trong khi đó, tàu sân bay thứ hai được cho là sắp hoàn thành, với thiết kế tinh vi hơn so với tàu sân bay đầu tiên, tàu Liêu Ninh.
Theo Yin Zhuo, quan chức cơ quan tham mưu của hải quân Trung Quốc, chiếc hàng không mẫu hạm thứ hai của Bắc Kinh có thể mang theo nhiều vũ khí, máy bay chiến đấu, và nhiên liệu hơn.
Hồi tháng 6, nhiều bức ảnh chụp tàu ngầm tấn công Type 093 chạy bằng hạt nhân của Trung Quốc đã xuất hiện trên internet. Chiếc tàu này có thể trang bị các ống phóng dọc, có thể khai hoả tên lửa hành trình chống hạm YJ-18 và tên lửa hành trình tấn công trên bộ tầm xa DF-10.
Chiến trường Việt Nam là nơi Mỹ đã sử dụng rất nhiều các loại phương tiện chiến tranh hiện đại, trong số đó là máy bay trực thăng quân sự, điển hình như trực thăng vũ trang Bell UH-1 Iroquois.
Trực thăng vũ trang đa nhiệm UH-1 Iroquois (Huey) có thể được coi là một trong những biểu tượng cuộc chiến tranh Việt Nam. 15 chiếc trực thăng Huey đầu tiên thuộc đại đội yểm trợ vận tải chiến thuật, được thành lập ở Okinawa Nhật Bản ngày 15/7/1961, đại đội có nhiệm vụ nghiên cứu khả năng sử dụng UH-1A thực hiện nhiệm vụ tấn công mục tiêu mặt đất và yểm trợ các máy bay trực thăng vận tải.
Một năm sau đại đội được chuyển đến Thái Lan, tham gia vào cuộc diễn tập của khối liên minh quân sự SEATO, 25/7/1962 đại đội trực thăng UH-1 Huey có mặt tại căn cứ không quân Tân Sơn Nhất, miền Nam Việt Nam. Nhiệm vụ đầu tiên của đại đội Huey là hộ tống phi đội trực thăng vận tải CH-21 được thực hiện vào ngày 03.08.1962. Tháng 11 đại đội trực thăng Iroquois được tăng cường thêm 11 trực thăng UH-1B.
Ngày 5/1/1963 đại đội tổn thất chiếc trực thăng đầu tiên. Trong trận chiến đổ bộ tấn công làng Ấp Bắc có sự tham gia của 10 chiếc CH-21 và 5 chiếc trực thăng vũ trang "Huey". Những chiếc trực thăng vận tải CH-21 theo kế hoạch tiến hành bốn làn sóng đổ bộ binh Sài Gòn. Đợt đổ bộ đầu tiên đến khu vực hạ cánh và đổ quân không gặp bất kỳ trở ngại nào. Sương mù hạ thấp dày đặc đã trì hoãn 3 đợt đổ bộ tiếp theo khoảng một giờ rưỡi. Trực thăng vận tải tiếp tục đổ bộ đợt thứ hai và thứ ba bộ binh Sài Gòn không gặp trở ngại. Đợt đổ bộ thứ tư thực hiện sau đó nửa giờ.
Lần này các máy bay trực thăng lao đầu vào một bức tường lửa. Hỏa lửa bắn thẳng mặt đất tưới đạn vào các trực thăng. Một chiếc Iroquois bị bắn gãy cánh quạt chính, chiếc trực thăng lập tức rơi thẳng xuống mặt đất, toàn bộ phi hành đoàn và bộ binh thiệt mạng. Một chiếc CH-21 buộc phải hạ cánh khẩn cấp. Một chiếc CH-21 phải hạ cánh ngay bên cạnh để cứu hộ phi hành đoàn, do chiếc CH-21 bị bắn thủng chi chít toàn thân. Từ tháng 6/1963 UH-1A Iroquois bắt đầu được đưa vào biên chế cho các đại đội bộ binh cơ động đường không. Mỗi đại đội được biên chế thêm hai trung đội máy bay trực thăng vận tải và trung đội hỏa lực đi cùng. Đại đội trực thăng đa nhiệm đầu tiên được biên chế Huey lần đầu tiên đến Việt Nam được tái biên chế thành đại đội “trực thặng vận” như vậy. Đại đội cũng thay đổi nhiều phiên hiệu cho đến khi nhận phiên hiệu cuối cùng là Đại đội 334. Đại đội này trở lên nổi tiếng nhất trong số các đơn vị cơ động đường không hạng nhẹ. Nhiều bộ phim Hollywood có sử dụng máy bay chiến đấu, trên máy bay trực thăng được trang trí bằng 2 lưỡi gươm gác chéo nhau - biểu tượng của đại đội trực thăng vận 334.
Cuối năm 1963 Quân đội Mỹ đã phát triển sơ đồ chiến thuật sử dụng trực thăng Bell UH-1 "Iroquois", với mật danh là " Đại bàng bay - Eagle Flight" - " Các phi vụ được định mật danh là - Flying Eagles". Trong một phi đoàn "Eagles" có một máy bay chỉ huy điều hành tác chiến, 5 trực thăng vũ trang "Rắn hổ mang - Cobras " và 7 trực thăng vũ trang chở quân "Iroquois" (trong một tình huống khác có thể là - 4 Cobra và 6 Iroquois tương ứng). Một trực thăng vũ trang UH-1 được sử dụng như một trạm quân y bay.
Phi đoàn thực hiên nhiệm vụ "theo cuộc gọi – yêu cầu tác chiến", đóng quân trên các căn cứ tiền duyên. Phương án chiến thuật này cho phép giảm đáng kể thời gian phản ứng với một tình huống nguy hiểm. Đến tháng 11.1964 tất cả các đại đôi máy bay trực thăng trong lực lượng Không quân Quân đội Mỹ (lực lượng bộ binh) hoạt động tác chiến ở khu vực Đông Dương đều theo sơ đồ chiến thuật này.
Lực lượng các máy bay trực thăng trên chiến trường ngày một nhiều hơn, các đơn vị trực thăng chiến đấu cũng lớn hơn. Đến tháng 9/1965, những binh sĩ đầu tiên của sư đoàn bộ binh số 10 đến Việt Nam, sư đoàn này được biên chế tới 108 máy bay trực thăng chiến đấu. Theo kế hoạch của Bộ tư lệnh Mỹ tại chiến trường Việt Nam, mỗi lữ đoàn bộ binh Mỹ và chính quyền Sài Gòn có một đại đội trực thăng chiến đấu. Trên thực tế một sư đoàn có khoảng một tiểu đoàn trực thăng, không phụ thuộc số lượng đại đội biên chế trong tiểu đoàn. Một lực lượng khá nổi tiếng là các không đoàn “kỵ binh bay” đầu tiên của Mỹ, trong một đại đội bay có 3 trung đội: trung đội trinh sát, trung đội yểm trợ hỏa lực và trung đội vận tải chở quân. Trung đội trinh sát được trang bị các máy bay trực thăng hạng nhẹ như OH-6 Cayuse, OH-23 Raven hoặc OН-58D, nhưng hiệu quả và thường xuyên hơn vẫn là OH-6A, trung đội hỏa lực được trang bị UH-1 В, trung đội vận tải sử dụng UH-1D.
Do tình huống chiến trường Việt Nam rất phức tạp, lực lượng trinh sát và hỏa lực cùng hoạt động trong một đội hình chiến đấu. Nhiều tình huống chiến thuật các máy bay trinh sát đóng vai trò nghi binh, thu hút hỏa lực của Quân Giải phóng dưới mặt đất. Khi phát hiện ra các hỏa điểm, những chiếc trực thăng Rắn hổ mang AH-1 Cobra Helicopter sẽ sử dụng hỏa lực tập kích mục tiêu.
Trực thăng tấn công hỏa lực AH-1A Cobra.
Từ thời điểm đó, trực thăng Mỹ thực hiện hầu hết các nhiệm vụ của một đơn vị chiến đấu thông thường. Quân đội Mỹ sử dụng trực thăng nói chung và UH-1 nói riêng cho mọi hình thái chiến trường, mọi hoạt động tác chiến. Từ vận tải, chuyển quân, công tác hậu cần kỹ thuật, nhiệm vụ trinh sát đường không và chi viện hỏa lực cho đến cứu hộ, tải thương và thậm chí phục vụ các chuyến bay cơ đông, kiểm soát, điều hành tác chiến của các sở chỉ huy Mỹ ở Việt Nam.
Tham gia chiến đấu có hiệu quả, nhưng tổn thất về phương tiện chiến tranh, đặc biệt là trực thăng cũng thật sự kinh hoàng. Theo hồi ức của kỹ thuật viên máy bay R. Chinoviz, đến Việt Nam trong tháng 1/1967, tại căn cứ không quân lớn nhất Miền Nam Việt Nam Tân Sơn Nhất, đập vào mắt quân nhân Mỹ này là ít nhất 60 chiếc trực thăng UH-1 "Iroquois" hoàn toàn vỡ vụn hoặc hư hỏng hoàn toàn. Các vết đạn xuyên chủ yếu vào giữa thân máy bay – các xạ thủ súng máy và kỹ thuật viên máy bay thường xuyên thiệt mạng và bị thương hơn nhiều so với phi công.
Lực lượng phi công lái máy bay trực thăng đã trở thành vấn đề trầm trọng đối với không quân bộ binh Mỹ trong suốt cuộc chiến tranh. Một đại đội trực thăng chiến đấu mà số lượng phi công đạt đến 90% theo biên chế là một con số lý tưởng. Số lượng phi công thường xuyên hao hụt do bị loại khỏi vòng chiến đấu trong các chuyến bay. Phi công UH-1 có số giờ bay theo quy định là khoảng 150 giờ trong 1 tháng, trên thực tế phải bay khoảng 190 — 200 giờ.
Chất lượng phi công từ Mỹ sang Việt Nam luôn làm các sĩ quan chỉ huy dày dạn kinh nghiệm không hài lòng: “Những chàng trai 19 tuổi - hoàn toàn là lũ ngốc”. Những phi công non choẹt này trước khi bay chiến đấu đã cố gắng bay thực tế ít nhất khoảng 25 giờ bay, nhưng ở Việt Nam bất cứ chuyến bay nào cũng có thể là chuyến bay chiến đấu và là chuyến bay cuối cùng. Các đơn vị Giải Phóng quân Miền Nam Việt Nam và dân quân du kích địa phương có thể xả đạn vào trực thăng Mỹ bất cứ lúc nào, kể cả khi mới cất cánh.
Sau thời gian đầu tiên sử dụng chiến thuật “Trực thăng vận” tương đối có hiệu quả trên chiến trường, quân đội Mỹ và lực lượng Sài Gòn mở rộng khả năng sử dụng máy bay trực thăng trong mọi hình thái chiến thuật, tăng cường cơ động di chuyển đường không và triệt để sử dụng ưu thế hỏa lực cũng như khả năng cơ động của UH-1. Nhưng Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam cũng nhanh chóng tìm được cách đối phó.
Trên toàn bộ chiến trường Miền Nam dấy lên phong trào diệt trực thăng địch. Rất nhiều các hình thức phục kích máy bay địch, tập kích vào khu trú quân, phát triển nhiều cách đánh máy bay, bao gồm cả sáng kiến “mìn chống trực thăng” khiến số lượng máy bay các loại, trong đó có trực thăng bị bắn rơi, bị phá hủy tăng lên nhanh chóng. Mỹ buộc phải tăng nhanh số lượng phương tiện bay tham chiến ở Việt Nam.
Số máy bay trực thăng tham chiến ở Việt Nam phát triển với tốc độ chóng mặt. mùa xuân năm 1965, số lượng máy bay Bell UH-1 "Iroquois" có khoảng 300 chiếc, trong đó khoảng 100 chiếc là trực thăng tấn công UH-1 В, nhưng cho đến khi kết thúc chiến tranh, chỉ riêng có Bell UH-1 số lượng máy bay "Iroquois" đã vượt hơn tất cả số máy bay trực thăng UH-1 của các quốc gia khác cộng lại, khoảng 2.500 chiếc!
Khối lượng khổng lồ binh khí kỹ thuật, trong đó có trực thăng chiến đấu ảnh hưởng nặng nề đến nền công nghiệp xuất khẩu trực thăng cho các quốc gia khác. Vấn đề then chốt là động cơ trực thăng T53. Công nghiệp sản xuất động cơ không có đủ sản phẩm để cung cấp cho chiến trường Việt Nam, do đó bỏ lửng hoàn toàn các hợp đồng khác, ví dụ như với Liên bang Đức. Sự thiếu hụt đã được người Pháp lợi dụng triệt để, thị trường trực thăng vận tải dần dần bị Pháp chiếm lĩnh một phần. Các máy bay trực thăng "Alouette" III có được thành công tầm quốc tế chủ yếu là do quân đội Mỹ và lực lượng trực thăng bị sa lầy hoàn toàn ở Việt Nam.
Quân đội Mỹ từng lên kế hoạch sử dụng bom hóa học phá hủy mùa màng, từ đó tạo ra nạn đói nhằm tiêu diệt sức kháng cự của quân đội Nhật Bản trong Thế chiến II.
Tạp chí National Interest tiết lộ, tháng 4/1944, quân đội Mỹ bắt đầu điều chế một loại hóa chất đặc biệt nhằm triệt phá mùa màng, tạo ra nạn đói từ đó vô hiệu hóa sức mạnh quân đội Nhật.
Một năm sau đó, vũ khí hóa học đặc biệt đã sẵn sàng để ném xuống Nhật Bản. Dự án được gọi là “Dow Chemical” (tiền thân của công ty hóa chất Dow ngày nay).
Ý tưởng phá hoại nguồn cung thực phẩm từng được ghi nhận trong lịch sử chiến tranh thế giới. Đây cũng là một phương pháp cổ điển nhằm gián tiếp làm suy yếu khả năng chiến đấu của đối phương.
Theo một báo cáo mật của Ủy ban Nghiên cứu Quốc phòng Mỹ, việc sử dụng vũ khí hóa học để phá hủy cây trồng trên các đảo chính của Nhật Bản đã được xem xét nghiêm túc những năm cuối Thế chiến II.
Đến tháng 4/1945, quân đội đã thử nghiệm hơn 1.000 loại hóa chất tại căn cứ Detrick, bang Maryland, cách Washington khoảng 80 km. Ngoài ra, quân đội còn kết hợp với Đại học Ohio để tổng hợp khoảng 200 hoạt chất có triển vọng sử dụng. Hóa chất phục vụ cho chương trình được đặt mã “LN” kèm theo chữ số để phân loại.
Kế hoạch của Mỹ sẽ sử dụng máy bay ném bom tầm xa B-29 mang bom hóa học ném xuống các đảo chính của Nhật Bản. Ảnh: Không quân Mỹ
Các nhà khoa học nhận thấy, axit phenoxyacetic là chất phù hợp. Loại chất này khi phun lên cây trồng sẽ làm đảo lộn quá trình trao đổi chất của cây khiến chúng không hút được chất dinh dưỡng và chết. Ít nhất 9 loại hóa chất với thành phần chính là phenoxyacetic, trong đó hợp chất LN-8 cho kết quả khả thi nhất.
LN-8 được bào chế dưới dạng rắn, bột và chất lỏng. Tại Lầu Năm Góc, LN-8 được gọi với các tên rất ấn tượng “Axit diệt rau”.
Cuối tháng 4/1945, máy bay ném bom B-25 mang theo bình chứa 2.000 lít chất LN-8 thử nghiệm tại Terre Haute, Indiana và Beaumont, Texas.
Thử nghiệm cho thấy, hợp chất quá nhẹ nên phát tán quá rộng trong không khí dẫn đến hiệu quả không cao. Các nhà khoa học chuyển sang sử dụng một hộp nhỏ chứa 56 kg chất LN-8 và được ném xuống kiểu như bom chùm. Nhưng thử nghiệm lại phát sinh vấn đề nắp hộp thường mở không đúng lúc.
Các kỹ sư thiết kế lại thành những hộp riêng chứa 90,7 kg hợp chất. Máy bay ném bom B-29 có thể mang theo hàng chục bom hóa học. Một ngòi nổ được thiết kế để bung ở độ cao cài đặt sẵn nhằm phát tán hợp chất xuống mặt đất.
Kết quả kiểm tra thực địa cho thấy, hợp chất LN-8 chỉ có tác dụng đối với các loại cây lá rộng, thân cứng, trong khi ít hiệu quả đối với cỏ, các loại cây có hạt như lúa mì, lúa nước. Quân đội cần tìm một hợp chất khác hiệu quả hơn cho kế hoạch tiêu diệt nguồn cung thực phẩm của Nhật Bản.
Một vấn đề đáng quan ngại là các nhà khoa học không thể xác định hợp chất LN-8 sẽ tồn tại bao lâu trong đất, nước và tác hại của chúng đối với con người, động vật hoang dã. Mặt khác, Công ước Geneva 1925 cấm sử dụng vũ khí hóa học, sinh học trong chiến tranh. Bên cạnh đó, việc Nhật đầu hàng sau khi Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki nên kế hoạch ném bom hóa học không còn cần thiết.
Tuy vậy, các nhà khoa học Mỹ tiếp tục nghiên cứu hợp chất hóa học mới có khả năng hủy diệt cây cối khủng khiếp là dioxin.
Kế hoạch ném bom hóa học xuống Nhật Bản không thực hiện được, nhưng quân đội Mỹ đã rải hàng chục nghìn lít chất độc dioxin xuống miền Nam Việt Nam giai đoạn 1960 - 1970. Quân đội Mỹ sử dụng chất độc da cam với thành phần tương tự LN-8 và LN-14 để phát quang cây cỏ dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh. Loại hóa chất độc hại này để lại di chứng nghiêm trọng cho nhiều thế hệ người Việt Nam sau chiến tranh.
Hàng loạt tân binh tại các đơn vị lực lượng quốc phòng Úc bị cưỡng hiếp hoặc ép cưỡng hiếp lẫn nhau.
Tân binh trong các trường đạo tạo quân sự Úc. Ảnh minh họa
Trang CNN đưa tin, một cuộc điều tra về vấn đề lạm dụng tình dục trẻ em tiết lộ, kể từ năm 1960, các thiếu niên nhập học tại các trường quân đội ở Úc đều bị các nhân viên cưỡng hiếp hoặc bị ép hãm hiếp lẫn nhau.
Những nhân chứng, bao gồm cả đàn ông và phụ nữ, nói với Ủy ban Hoàng gia Úc rằng, họ đã bị lạm dụng tình dục từ khi mới 15 tuổi tại các đơn vị của lực lượng quốc phòng Úc.
Đến nay, đã có 111 nạn nhân báo cáo về việc bị lạm dụng và khoảng hơn 10 người sẽ đưa ra bằng chứng phục vụ điều tra tại Sydney cho đến ngày 1/7.
Theo CNN, một nhân chứng nam tiết lộ: “Tôi đã từng nhiều lần bị lôi ra khỏi giường lúc nửa đêm bởi tân binh lớn tuổi hơn. Hắn ta đã kéo tôi đến khu thể thao hình bầu dục”.
Nhân chứng này cho biết ông bị buộc hãm hiếp tân binh khác hoặc bị các binh lính, nhân viên cưỡng hiếp.
Một nhân chứng khác, ông Graeme Frazer, 65 tuổi kể lại, lúc còn là tân binh hải quân năm 1967, ông đã bị đánh đập và lạm dụng tình dục bởi ba tân binh khác. Ông bị bắt quan hệ tình dục bằng miệng và tra tấn vùng kín. Ông chia sẻ: “Tôi vẫn luôn cảm thấy tội tỗi và xấu hổ. Tôi bị trầm cảm nặng sau khi bị lạm dụng”.
Trước sự việc này, Úc đã triển khai một cuộc điều ra rộng lớn về lạm dụng tình dục trong quân đội.
Trả lời phỏng vấn CNN, Phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Úc cho biết: “Chúng tôi đã hợp tác với Ủy ban Hoàng gia nhằm bảo vệ quyền lợi cho trẻ em. Chúng tôi ghi nhân và tuyên dương sự dũng cảm của những người dám kể lại câu chuyện đau khổ của cá nhân suốt phiên điều trần. Tuy nhiên, Bộ Quốc phòng sẽ không bình luận chi tiết về vấn đề này trước khi Ủy ban Hoàng gia lên tiếng”.
Hiện, Ủy ban Hoàng gia đang tập trung điều tra các cáo buộc lạm dụng tại trung tâm đào tạo hải quân HMAS Leeuwin ở bang Tây Úc và trường quân đội Balcombe ở bang Victoria trong những năm 1960-1980 cũng như tại lực lượng quốc phòng Úc kể từ năm 2000.
Người dơi tưởng chừng là chuyện viễn tưởng nhưng ít người biết trong Chiến tranh thế giới 2 Mỹ từng có một kế hoạch xây dựng một đội quân người dơi thực sự.
Vào năm 1942, Vệ binh liên bang California đã cố gắng bảo vệ bang này trước các cuộc tấn công của quân Nhật bằng cách tổ chức một đơn vị lính dù "người dơi".
Ý tưởng này bắt đầu vào tháng 8/1941 do tạp chí Mechanix Illustrated đề xướng (Tạp chí này hoạt động cho đến năm 2001). Một cựu binh là Thiếu tá Malcolm Wheeler-Nicholson đã viết một bài về tất cả các yếu tố "ngây thơ kiểu Mỹ" đã được đề ra để giúp Mỹ giành chiến thắng trong Chiến tranh thế giới 2.
Bài báo của Nicholson.
Trong bài viết đó, Nicholson xác nhận chính xác có 2 trở ngại lớn nhất mà các lính dù "người dơi" phải đối mặt khi hoạt động thực tế. Trước hết, các binh sỹ bị thương trong quá trình nhảy từ độ cao hàng chục mét. Thứ hai là họ thường bị tản ra một khu vực rộng lớn trong quá trình rơi tự do.
Nicholson – một cựu sỹ quan kỵ binh bay đồng ý rằng các "người dơi" tức các lính dù trang bị đôi cánh lượn đặc biệt đã trở nên nổi tiếng tại các triển lãm hàng không sẽ có thể mở dù một cách an toàn ở độ cao thấp hơn khiến cho các lực lượng dưới đất khó khăn hơn trong việc tấn công và tiêu diệt họ. Thêm nữa các "người dơi" cũng có thể tự điều khiển trong không khí để họ tiếp đất gần đồng đội và thực hiện hành động chiến đấu mau chóng hơn.
Tuy ý tưởng này không được quân đội Mỹ chấp nhận nhưng lực lượng vệ binh của bang California đã lập một đơn vị "người dơi" vào năm 1942 để thử nghiệm các bộ quần áo. Họ được dẫn dắt bởi Mickey Morgan – một người trình diễn hàng không đã nổi tiếng từ những năm 1940.
Lính tiểu đoàn dù 555 trước một lần xuất phát.
Tuy vậy dường như đơn vị này đã bị chìm lắng vào lịch sử và không bao giờ thấy có một hành động thực tế nào. Bởi lẽ trong Chiến tranh thế giới 2, California chỉ bị một vài cuộc tấn công của quân Nhật mà chủ yếu là bằng khí cầu mang bom hoặc bằng máy bay được phóng từ tàu ngầm. Các đám cháy do chúng gây ra hoặc là được dập tắt bởi nhân viên cứu hỏa địa phương hoặc tiểu đoàn cứu hỏa sử dụng dù lượn 555. Các chiến binh "người dơi" đã không thử "bay" bất kỳ lần nào ngoài các hoạt động đào tạo.
Theo đó, thuế giá trị gia tăng của Ecuador sẽ tăng từ 12% lên 14% trong năm 2017. Đối với cá nhân, những người có tài sản trên 1 triệu đô la sẽ bị đánh thuế một lần là 0,9% trên tổng tài sản.
Tổng thống Ecuador Rafael Correa (giữa) đã tới thị sát các khu vực bị ảnh hưởng bởi trận động đất mạnh 7,8 độ Richter xảy ra tối 16/4 vừa qua ở tây bắc nước này. (Ảnh: AFP/TTXVN)
Không chỉ với giới giàu và siêu giàu, những người lao động có thu nhập trên 1.000 đô la/tháng sẽ phải đóng góp 1 ngày lương và 5 ngày lương đối với mức thu nhập trên 5.000 đô la/tháng.
Theo con số thống kê chính thức, số người thiệt mạng trong thảm họa này tính đến nay đã lên tới 587 người, trong đó có 27 người nước ngoài, và hơn 5.730 người bị thương.
Hiện, giới chức Ecuador đang nỗ lực đẩy nhanh công tác cứu hộ cũng như tiến hành các biện pháp khắc phục hậu quả thiên tai.
Qua 8 năm trị vì, Tổng thống Yeltsin dường như hết lực. Quân đội Nga trong một đất nước khốn khó, cũng xuống dốc và suy yếu nhanh chóng.
Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết sụp đổ tháng 12/1991, Tổng thống Yeltsin trị vì nước Nga 2 nhiệm kỳ từ 1991 đến tháng 12 năm 1999. Suốt những năm tháng đó, nước Nga phập phồng trong sự bất hoà chính trị và khốn khó vì kinh tế sụp đổ.
Đại tá Victor Baranez, trợ lý báo chí - truyền thông, thuộc Bộ Tổng tham mưu Nga trong suốt hơn mười năm, đã chứng kiến, những chính sách bất cập, những mâu thuẫn giữa khả năng và tham vọng cải tổ quân đội.
Đây chính là nguyên nhân gây nên những bi kịch, không chỉ suy giảm sức chiến đấu nghiêm trọng, mà còn khiến cho đời sống sĩ quan, binh sĩ của một đội quân "Vang bóng một thời" cũng nhếch nhác, khốn khó.
Đây có thể là một căn cứ tên lửa dưới thời Liên Xô, tình hình kinh tế khó khăn sau năm 1991 đã khiến nơi đây - có thể từng là nơi rất nhộn nhịp trở thành căn cứ "ma", không một bóng người, không ai quản lý.
Khốn khó từ thượng tầng
Từ 1991, Quân đội Nga vẫn giữ nguyên số vũ khí hạt nhân của cả Liên bang, nhưng đã mất đi quyền kiểm soát một lượng lớn vũ khí hiện đại được triển khai tại các nước cộng hòa.
Tưởng giảm số lượng thì có điều kiện tăng chất lượng. Nhưng không! Victor Baranez viết: "Trong nhiều năm, Tổng thống Nga luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của cải cách quân sự, nhưng về cơ bản đã không có gì thay đổi.
Quân đội không có thành công kết quả nào đáng nói. Sau khi rút khỏi Việt Nam, người Mỹ đã tăng gấp đôi ngân sách quân sự của họ. Sau đó được liên tục nâng lên từ năm này sang năm khác. Chúng tôi, thì ngược lại, từ năm này sang năm khác bị cắt giảm".
... Sự trở về Nga của rất nhiều sĩ quan và gia đình của họ từ châu Âu và các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ, tiếp tục làm sâu sắc thêm gánh nặng cho các ngân sách quân sự".
Tài sản của quân đội Nga, thực chất của nước Nga ở nước ngoài có giá trị rất lớn. Nhưng thu về, mang về chẳng được bao nhiêu.
Tướng Vladimir Semyonov chỉ huy Lực lượng lục quân nói: Những cải cách khó có thể được thảo luận khi huấn luyện chiến đấu của chúng tôi chỉ được bảo đảm 8 đến 9% yêu cầu.
Đô đốc Hải quân Valentin Selivanov nói: Một sử gia chuyên nghiên cứu về đời sống của quân đội Nga trong những năm 1992-1999, đã rất ngạc nhiên khi thấy chúng tôi mỗi năm lại thông qua một khái niệm mới về cải cách quân đội.
Thiếu tiền, năm 2000, Hải quân Nga bao gồm các lực lượng sẵn sàng chiến đấu chỉ có 112 đến 160 tàu ngầm, chống lại 432 chiếc của Hải quân Mỹ.
Tàu tuần dương tên lửa chạy bằng năng lượng hạt nhân Đô đốc Lazarez bị loại biên chế năm 1999 và có kế hoạch tháo dỡ nhưng thiếu kinh phí nên rỉ sét, tàn tạ thảm thương.
Tương tự với các tàu mặt nước, chỉ còn 1 tàu sân bay, 2 đến 3 tàu tuần dương tên lửa, 7 đến 10 tàu khu trục và 30 đến 40 tàu tên lửa rải rác tại các vùng biển khác nhau.
Từ lực lượng đứng thứ hai thế giới, so sánh tỷ lệ Hải quân Liên Xô và Hải quân Mỹ là 1:3 vào đầu những năm 1990, thì tới năm 2000, tỷ lệ này chỉ còn là 1:25. Nghĩa là Mỹ có nhiều tàu gấp 25 lần Nga!
Lực lượng phòng không của Nga không còn đủ sức che phủ, đã xuất hiện các "lỗ hổng" lớn trên bầu trời. Bộ Tổng Tham mưu đã buộc phải cắt bớt quân và cắt diễn tập chiến thuật hải quân.
Trong giai đoạn 1993-1997, lục quân không bảo đảm đầy đủ quy mô một trận diễn tập chiến thuật cấp sư đoàn hoặc trung đoàn có bắn đạn thật. Thay vào đó, họ chỉ được tổ chức chỉ huy tập trên sa bàn, trên bản đồ.
Grachev, người đứng đầu Bộ Quốc phòng Nga trong 4 năm, một thời gian dài đã không dám công khai đấu tranh chống lại chính quyền. Nhưng rồi, năm 1995, ông không thể cưỡng lại khi phàn nàn với Yeltsin rằng việc cải tổ quân đội chững lại vì không có tiền.
Tổng thống đã trả lời: Có những lĩnh vực cải cách quân đội, mà không cần tiền. Khó khăn, nhưng vẫn cố gắng!
Trong 1994-1996, tình hình đã trầm trọng hơn, ngân sách bắt đầu bị nuốt ở Chechnya. Chỉ trong sáu tháng đầu tiên của cuộc chiến tranh, ngân sách quân sự ngốn hơn 2,5 nghìn tỉ rúp mà không được bù đắp.
Từ năm 1992, Bộ Quốc phòng Nga đã phát triển hơn 15 chương trình tái vũ trang. Hầu như tất cả đã thất bại. Chi tiêu cho nghiên cứu năm 1990 là gần 20%, tới năm 1994, con số này đã giảm xuống còn 5,7% (trong khi các nước NATO tăng lên 11,2% từ 9,8 %).
Vì lý do này, các thiết bị quân sự hiện đại trong Quân đội Nga từ 35% năm 1992 giảm xuống còn 10% vào năm 1997 (trong khi NATO tăng 40%).
BQP và Bộ Tổng tham mưu nghĩ và đi đến kết luận rằng việc giảm kế hoạch của Quân đội vào năm 1997 cũng phải có ít nhất 40 nghìn tỷ rúp. Điện Kremlin kết luận rằng, số đó chỉ nên là 10 nghìn tỷ rúp.
Có một dòng chảy chất xám ra ngoài ngày càng tăng. Nhiều chuyên gia giỏi nhất của lĩnh vực quốc phòng đã ra nước ngoài.
Hải quân Mỹ (ảnh) đã vượt lên trước, bỏ xa Hải quân Nga.
…khốn khó đến căn cứ quân sự
Ngân sách trống rỗng, ngày càng nhiều đơn vị biến thành con nợ "mãn tính" của chính quyền địa phương. Vì lý do này, các đơn vị quân đội bị cắt điện liên tục. Gia đình binh sĩ còn lại không có điện và nước, phải đun củi vào mùa đông.
Tháng 9 năm 1994, một trường hợp khẩn cấp trong đơn vị tên lửa chiến lược, nguồn điện bị ngắt kết nối với trung tâm chỉ huy. Điều này làm suy yếu khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng hạt nhân chiến lược.
Họ buộc phải nổ máy dự phòng phát điện khẩn cấp. Điều này trước đây chưa hề xảy ra.
Tỷ lệ trang bị thêm thiết bị mới cho quân đội và hải quân giảm. Năm 1994, chỉ thêm 1 phi đội máy bay chiến đấu mới, 1 tàu chiến và 5 xe tăng mẫu mới. Tình trạng này không thay đổi suốt 5 năm sau đó.
Không những thế, Quân đội cũng thiếu tiền phục hồi hư hỏng thiết bị quân sự cũ.
Bảo đảm kỹ thuật sẵn sàng chiến đấu của Không quân giảm 50% ... Trong năm 1995, KQ Nga "đòi" được 13% số tiền theo ngân sách. Số tiền này chỉ đủ để trả tiền nhiên liệu.
Việc phân bổ ngân sách cho R&D đạt chưa tới 35% nhu cầu. Bộ Tài chính chi trả các đơn đặt hàng nhà nước cho KQ chỉ đạt 45%. Trong giai đoạn 1992-1993, Hải quân không được trang bị thêm bất kỳ tàu chiến mới nào.
Tài liệu của Bộ Tổng tham mưu lục quân: Trong 5 năm, số vũ khí trang bị mới giảm xuống trung bình khoảng 30%. Các loại xe chiến đấu bộ binh và trực thăng tấn công hầu như vắng mặt.
Kiểm tra thực tế nhiều đơn vị kỹ thuật, người ta thấy việc sửa chữa các bộ phận cũ và lắp ráp phụ tùng "mới" không rõ nguồn gốc, không có giấy chứng nhận chất lượng. Thực chất là hành vi mờ ám, gian lận, mua đồ cũ tính tiền bằng đồ "xịn".
Trong khi nhân viên kỹ thuật chủ yếu do các nhà thầu cung cấp, nhiều người không có chuyên môn phù hợp, đạo đức thấp - say rượu, nghiện ma túy và có cả tội phạm.
Victor Baranez viết trong cuốn Bí mật Bộ tổng tham mưu:
"Tại Bộ Tổng tham mưu, 3 tháng không được trả lương. Và trong các đơn vị đồn trú, có khi tới nửa năm! Vợ các sĩ quan nấu súp cho trẻ em và chồng bằng củ quả thu hái được, nên họ đã không chết đói!
Có tháng tôi được một ổ bánh mì và sáu hộp cá mòi sốt cà chua. Đó là "lương" của tôi. Nơi các chiến lược gia đang làm việc về kế hoạch sử dụng vũ khí hạt nhân, họ ngửi thấy mùi súp. Người ta nấu thức ăn trực tiếp trong các văn phòng cơ mật này".
Tình trạng vi phạm kỷ luật quân đội những năm đó tăng nhanh. Trong năm 1992, tại Nga có 1.139 hành vi trộm cắp vũ khí và đạn dược, liên quan tới gần 40 nghìn người.
Đối với những tội ác, bán vũ khí bị cơ quan pháp luật bắt giữ 170 người, thu 768 thùng, trong đó có 7 súng phóng lựu, 574 thiết bị khí tài, máy móc.
Làng ngoại ô Malino, nơi đóng quân của một Trung đoàn không quân. Sau một cuộc điều tra, các nhân viên an ninh tìm ra nhiều bộ phận máy bay trực thăng gồm cả một động cơ của Mi-24 bị mất cắp. Tổng thiệt hại lên tới nửa tỷ rúp.
Sĩ quan Nga ở Chechnya bán máy móc, đạn dược, đó là những người lính thiếu tiền, đói. Khẩu phần của các binh sĩ Nga bị cắt xén, dưới mức ăn bình thường so với quy định của quân đội.
Các thực phẩm mà lính nghĩa vụ nhận thường có chất lượng kém, thậm chí có những lính mới nhập ngũ phải đi xin thức ăn và thuốc lá ở cửa hàng bách hóa. Nhiều gia đình đã gửi quần áo rét cho con cái mình đang chiến đấu ở Chechnya.
Bây giờ Quân đội Nga chỉ còn 4 tiểu đoàn kỷ luật ở Moulineaux, Novosibirsk, Rostov và Chita. Nhưng những năm 1990 đến 1998, Quân đội Nga có tới 16 tiểu đoàn kỷ luật, để giam, cải tạo các sĩ quan, binh sĩ bị kỷ luật.
Nhưng tiểu đoàn kỷ luật cũng khó khăn, nên họ phải canh tác, tự cung tự cấp, nuôi bò, lợn, gà.
Suốt 8 năm khốn khó của nước Nga, các sĩ quan Nga nhớ: Năm lần hứa với chúng ta cải cách dưới Gorbachev; Năm mươi lần hứa với chúng ta cải cách dưới thời ông Yeltsin nhưng "Quân đội vẫn tiếp tục sống mòn mỏi".
Nhưng, sau này, ngay cả khi ông Putin lên nắm vị trí cao nhất, từ năm 2000 mọi việc vẫn chưa phải đã "đâu vào đấy".
Trong vòng 10 năm, Anatoly Serdyukov được biết đến là một nhân vật có công và trung thành với Tổng thống Putin, nhưng chính ông Bộ trưởng BQP Nga này bị cáo buộc sử dụng binh sĩ để tân trang lại một dinh thự nghỉ dưỡng và xây một con đường tới đó.
Theo thống kê, tham nhũng đã trở thành đại dịch ở BQP. Công tố viên cao cấp của quân đội cho biết, tới năm 2011, có tới 1/5 ngân sách đã bị biển thủ hoặc lấy cắp.
Ngày 6-11-2012, Tổng thống Nga Putin đã tuyên bố bãi chức Bộ trưởng Quốc phòng của ông Anatoly Serdyukov sau một loạt scandal tham nhũng.
Không thể phủ nhận những hành động của Putin, qua các nhiệm kỳ Tổng thống và Thủ tướng, đã quan tâm đến phát triển Công nghiệp quốc phòng Nga. Ông trang bị cho quân đội thêm nhiều vũ khí hiện đại như máy bay, tàu chiến, tên lửa.
Giờ đây, Quân đội Nga đã hồi sinh trở lại, từ những hành động cứng rắn, mạnh mẽ ở Crime năm 2014, tới trên 100 ngày tham chiến ở Sirya, cho thấy lực lượng này đang lấy lại niềm tin của người dân Nga về sức chiến đấu.
Các máy bay ném bom Su-24 của Nga ở Syria.
Nhưng như thế cũng khiến ta không khỏi ngậm ngùi về những năm tháng Quân đội Nga khốn khó trong thiếu thốn và những hành động tham nhũng, thiển cận, làm suy giảm sức chiến đấu của một đội quân hùng mạnh ngày nào.
Theo Sputnik, ông Dmitry Rogozin Phó Thủ tướng Nga tuyên bố ngày 13 tháng 1 năm 2016 mới đây: "Tất nhiên, Liên bang Nga bây giờ đã không còn là nước Nga năm 1999. Nga có Tổng thống khác, và những người nắm quyền cũng khác trước.
Còn Quân đội của chúng tôi, Lực lượng Không quân - Vũ trụ của chúng tôi, thì chắc các bạn cũng thấy, đang chứng tỏ rõ ràng ở Syria rằng Nga đã tiến lên đẳng cấp mới cao hơn và hùng mạnh hơn".
Theo thông lệ liên tiếp 2 năm 1954 và 1955, cứ vào lúc 12 giờ đêm Noel 24-12, Ngô Đình Diệm đều đến Nhà thờ Đức Bà dự lễ mừng "Thiên Chúa giáng sinh".
Sinh thời, ông Huỳnh Việt Thắng (Tư Thắng, Mười Quỳ) – Nguyên phó Chánh án TAND Tối cao, Nguyên Ủy viên Ban An ninh miền Nam thường kể lại nhiều chuyện về những năm tháng hoạt động, chiến đấu của lực lượng An ninh từ thời kháng Pháp đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Trong những câu chuyện có nhiều nhân chứng sống động, có người là cấp trên, là đồng đội của ông. Đến nay có nhiều người đã đi vào cõi vĩnh hằng như ông và vẫn còn những đồng đội, bạn bè ông đang sống và được hưởng chính thành quả mà họ đã cống hiến cả tuổi thanh xuân của mình.
1. Sau khi được tổ chức bố trí vượt ngục, Tư Thắng bắt liên lạc với cơ sở tại Sài Gòn và bố trí đưa lên xã An Tịnh, Trảng Bàng, Tây Ninh để ra căn cứ. Vừa chân ướt chân ráo đặt chân đến Trảng Bàng, Tư Thắng và đồng chí Ba Tý, cán bộ cơ sở gặp liên tiếp mấy vụ địch bố ráp, đi càn.
Hết núp dưới hầm bí mật, rồi lại chạy hụt hơi băng đồng để tránh địch, có lần suýt chạm trán địch, mất mạng như chơi. Nhờ người dân nơi đây đều là dân cách mạng nên luôn che chở, bảo vệ cán bộ rất an toàn, khôn khéo.
Tại đây, chủ nhà cho biết: Hôm rày, tụi lính nó lùng sục tìm ông Năm dữ lắm… Ông Năm, Công an Trảng Bàng, chú biết hông? Ông Năm mà chủ nhà vừa nói đến là đồng chí Lâm Kiếm Xếp (Năm Xếp) Trưởng Công an huyện Trảng Bàng.
Trước đây, anh Phan Đức - Bí thư Liên Tỉnh ủy đã có lần nói với Tư Thắng: Chúng ta không chủ trương lấy việc ám sát cá nhân làm thượng sách. Nhưng tình hình bấy giờ cho thấy, Ngô Đình Diệm đang điên cuồng đánh phá cách mạng, việc ám sát rất có lợi cho cách mạng, cho nhân dân.
Sau đó, Liên Tỉnh ủy cùng với Tỉnh ủy Tây Ninh lập kế hoạch ám sát Ngô Đình Diệm, giao cho Năm Xếp - Trưởng Công an Trảng Bàng tổ chức thực hiện.
Vào ngày 20-10-1956, tại căn cứ ấp Rỗng Tượng, Gò Dầu, Tây Ninh, đồng chí Lâm Kiếm Xếp - Trưởng ban Địch tình Tỉnh ủy Tây Ninh được giao nhiệm vụ tổ chức ám sát Ngô Đình Diệm khi lên thăm Tòa Thánh Tây Ninh để ký thỏa ước Bính Thân với giáo phái Cao Đài Tây Ninh.
Nhưng do thời gian quá gấp gáp, lại thiếu thông tin từ nội vụ Phủ Tổng thống nên không nắm cụ thể ngày giờ nơi đi, đến của Ngô Đình Diệm. Do đó, kế hoạch ám sát không thể thực hiện được.
Theo thông lệ liên tiếp 2 năm 1954 và 1955, cứ vào lúc 12 giờ đêm Noel 24-12, Ngô Đình Diệm đều đến Nhà thờ Đức Bà dự lễ mừng "Thiên Chúa giáng sinh".
Trong số điệp báo của Ban địch tình Tỉnh ủy Tây Ninh của Năm Xếp, có anh Lê Văn Cửu đã được cài vào làm phiên dịch trong Cơ quan Viện trợ Mỹ, tạo được mối quan hệ với nhiều quan chức cao cấp trong chính quyền Sài Gòn theo đạo Thiên Chúa. Anh Cửu được mời đi dự lễ Noel, làm cầu nối để làm thân với các cố vấn Mỹ.
Do đó, tháng 12-1956, Hà Minh Trí (Mười Thương) đề xuất với cấp trên kế hoạch diệt Ngô Đình Diệm tại Nhà thờ Đức Bà vào đêm Noel. Bố trí Lê Văn Cửu và Hà Minh Trí mỗi người một súng ngắn, có mặt tại Nhà thờ Đức Bà cùng với một số "quan chức" là bạn của anh Cửu.
Hà Minh Trí đã tiếp cận cách gia đình Diệm - Nhu khoảng 12m, cách 9 hàng ghế trong lúc hành lễ. Phía bên ngoài, hai chiến sĩ Phan Văn Phát và Nguyễn Văn Tám sẵn sàng tiếp ứng khi nghe súng nổ, sẽ lập tức cắt cầu dao điện, tung lựu đạn khói mù tạo hoảng loạn để Cửu và Trí thoát thân.
Nhưng khi đến giờ G, Tổng Giám mục Sài Gòn rung chuông, bắt đầu buổi lễ, quan sát không thấy Ngô Đình Diệm, vụ ám sát lần thứ hai bất thành.
Hôm sau, báo chí Sài Gòn loan tin "Tổng thống Ngô Đình Diệm đã đến dự lễ cầu nguyện cùng với giáo dân miền Bắc di cư đang sống tại Khu trù mật Đức Huệ – Long An".
Ngày 22-2-1957, Ngô Đình Diệm dự lễ và cắt băng khánh thành Hội chợ Kinh tế Trung phần Cao nguyên tại Buôn Mê Thuột (Đắk Lắk). Dịp may hiếm có, Năm Xếp liền mật báo bố trí cho đồng chí Hà Minh Trí trong vai một thương nhân từ Tây Ninh lên dự hội chợ.
Đúng 9 giờ sáng, khai mạc hội chợ, Ngô Đình Diệm dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tiến vào lễ đài với sự bảo vệ dày đặc của lực lượng quân cảnh và mật thám. Khi tiếng hô chào cờ vang lên…
Hà Minh Trí đã nhanh chóng rút khẩu súng MAT-49 cưa nòng, nhắm Ngô Đình Diệm nhả đạn. Nhưng đạn không nổ… lập tức Hà Minh Trí bị bắt. Sau đó chúng giam Hà Minh Trí tại nhiều nhà lao và đày ra Côn Đảo.
Sau đó, anh em Diệm - Nhu bị giết trong cuộc đảo chính quân sự vào tháng 11-1963. Do mang sắc lính Cao Đài đối lập, nên vào tháng 3-1965 Hà Minh Trí được trả tự do.
Ra tù, Hà Minh Trí lấy tên là Mười Thương, được tổ chức phân công về làm việc tại Ban tổ chức Đặc khu Sài Gòn – Gia Định. Đầu năm 1965, Hà Minh Trí về công tác tại Ban an ninh T4 với tên mới là Nguyễn Văn Điền.
Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông vẫn tiếp tục công tác trong lực lượng Công an, đến năm 1989 chuyển sang làm Phó ban Nội chính rồi Trưởng ban Tôn giáo tỉnh Tây Ninh.
Năm 2005, ông Mười Thương được Chủ tịch Nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
2. Từ sau năm 1956, tình hình miền Nam có nhiều rối ren, bất lợi cho cách mạng. Tại căn cứ Bời Lời (Tây Ninh), tổ chức nhận thấy nhiều cán bộ nằm vùng hoạt động bí mật đã bị đấu tố, vây bắt bỏ tù và giết hại.
Nhiều đường dây giao liên cơ sở mật bị địch phá hoại, chính quyền Ngô Đình Diệm lê máy chém khắp miền Nam khiến cho đồng bào bị sát hại dã man.
Cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng tặng thưởng huân chương cho ông Huỳnh Việt Thắng.
Bí thư Liên Tỉnh ủy Phan Đức trao đổi, giao nhiệm vụ cho Tư Thắng sang Campuchia tạm lánh và hoạt động, tổ chức đường giao liên mật từ Phnôm Pênh về Sài Gòn. Nhận lệnh lên đường, từ Vàm Trảng, Tư Thắng băng qua sông Vàm Cỏ Đông về hướng Đức Huệ (Long An) qua Mỹ Quý có trạm giao liên bố trí đón.
Tại đây, Tư Thắng gặp Năm Xếp - người chỉ huy tổ chức ám sát Ngô Đình Diệm 3 lần không thành công.
Đến khu chợ thị tứ Sóc Nóc, thuộc huyện Svay Tiệp, tỉnh Svay Riêng (Campuchia) Tư Thắng và Năm Xếp được tổ chức bố trí ở nhà anh Hai Ngầu, một Việt kiều trong Hội Việt kiều yêu nước.
Các anh gặp một số cán bộ Tỉnh ủy Chợ Lớn, Công an Ty Chợ Lớn đang sinh sống tại đây. Ít lâu sau, Tư Thắng và Năm Xếp chuyển sang sống tại nhà Xì Hoằng, một Hoa kiều làm nghề buôn bán tại chợ.
Những ngày sống bên nhau nơi đất khách quê người, Năm Xếp thường kể lại chuyện ám sát hụt Ngô Đình Diệm đầy tiếc rẻ.
Tư Thắng kể lại cho Năm Xếp nghe chuyện khi còn làm ở Ty Công an Chợ Lớn và huyện Trung Huyện. Khi lên kế hoạch diệt tên ác ôn Đội Đồng khét tiếng trong vùng Bến Lức, có nhiều nợ máu với nhân dân, Công an Trung Huyện bố trí 3 tổ công tác tạo thành thế trận rất an toàn, hiệu quả.
Một tổ trinh sát, theo dõi, ra ám hiệu cho tổ hành động và tổ bảo vệ yểm trợ cho tổ hành động rút lui, đánh trả giải vây đồng đội.
Chính đồng chí Đại tá, Anh hùng Đặng Công Hậu (Tư Nam, Bá Âm) - Nguyên Giám đốc Công an Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo là người nổ súng bắn gục tên ác ôn Đội Đồng tại chợ giữa ban ngày và rút lui an toàn.
Một chiến công vang dội của Ty Công an Chợ Lớn và Công an huyện Trung Huyện được ghi vào sử sách.
Hai tuần lễ trôi qua, một buổi sáng Năm Xếp cầm trên tay tờ báo "Sống Chung" do Hội Việt kiều xuất bản tại Phnôm Pênh
Tờ báo đăng tin: Chính phủ Ngô Đình Diệm phản đối Chính phủ Hoàng gia Campuchia chứa chấp tên tội phạm đã tổ chức ám sát Diệm.
Phía Chính phủ Hoàng gia Campuchia đính chính là họ không chứa chấp, nếu tội phạm trốn tại Campuchia, bắt được sẽ giao cho Chính phủ Ngô Đình Diệm xử lý.
Sau khi đọc thông tin đó, Năm Xếp lo lắng, bồn chồn mất ăn mất ngủ. Anh nói với Tư Thắng: "Anh Tư à, anh cho tôi về miền Nam vô rừng ôm gò mối tránh né còn chắc ăn hơn.
Ở đây ai cũng tốt với mình, nhưng hằng ngày hai đứa nằm trong nhà, còn khu bên ngoài chợ, lính Khmer đi lễnh nghễnh. Sớm muộn gì chúng cũng biết tôi ở đây, bắt giao cho thằng Diệm thì toi đời, lại còn liên lụy đến anh và tổ chức".
Hiểu tâm trạng bất an của Năm Xếp, nhưng Tư Thắng suy nghĩ liệu về thì có an toàn hơn không?
Thời gian sau, Năm Xếp cũng được bố trí quay trở lại căn cứ Bời Lời, Tây Ninh chiến đấu cùng đồng đội. Đầu năm 1963, tại chiến trường Khu D, Năm Xếp bị lọt vào ổ phục kích của địch, chiến đấu oanh liệt và hy sinh.
Bọn địch đã chặt đầu anh mang về nộp cho Ngô Đình Diệm để lĩnh thưởng…
3. Tiếp tục những ngày hoạt động bên đất bạn, Tư Thắng xây dựng đường dây giao liên và tại chợ Chiphou, ông xin làm thợ phụ rửa ảnh cho ông chủ người Hoa tên Lưu Dực.
Thời kỳ hoạt động tại Sài Gòn, Tư Thắng đã từng làm việc tại tiệm Photo Trí trên đường Catinat (nay là đường Đồng Khởi, quận 1) nên có kinh nghiệm.
Từ thợ phụ, chẳng bao lâu Tư Thắng trở thành thợ chụp ảnh được ông chủ rất quý mến, ông còn quảng cáo "có thợ ảnh từ Sài Gòn lên" với tất cả tự hào.
Sau đó, ông Dực còn sang lại toàn bộ tiệm hình cho Tư Thắng làm chủ để ông lui về lập vườn sinh sống điền viên.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thời là Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ với ông Huỳnh Việt Thắng tại nhà riêng.
Có chỗ ở, công việc làm ổn định, Tư Thắng tranh thủ vận động bà con Việt kiều yêu nước tham gia giúp đỡ cách mạng Việt Nam, tạo cơ sở bí mật liên lạc, nơi đón tiếp khách công tác đặc biệt an toàn, tránh tai mắt quân địch và kẻ xấu.
Nhiều bà con Việt kiều có tinh thần yêu nước và trung thành với Tổ quốc đã tích cực vận động các Việt kiều khác tham gia, giúp đỡ nhiều việc thiết thực có ích cho cách mạng trong thời kỳ gian khó nhất.
Hệ thống đường giao liên từ Xứ ủy về Liên Tỉnh ủy miền Đông và Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn được Tư Thắng xây dựng thành hình hoàn chỉnh và quản lý hoạt động.
Nhánh công khai có nhiều hộp thư, nút thư… rải từ Phnôm Pênh về thị xã Svay Riêng, thị trấn Chiphou, tỏa xuống Bà Quách, Sóc Nóc qua Gò Dầu, vượt sông Vàm Cỏ Đông về Sài Gòn.
Một sự cố "suýt chết" xảy ra trong đường dây giao liên bí mật do Tư Thắng lập ra, đó là lần đưa đồng chí Trần Bạch Đằng dự họp Xứ ủy tại Phnôm Pênh về nước mang theo Nghị quyết 15 của Bộ Chính trị về chủ trương đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang của cách mạng miền Nam tiền Đồng Khởi.
Khi ghé Chiphou, Tư Thắng bố trí giao liên đưa đồng chí vượt biên qua Rạch Tràm, lên Vàm Trảng để về căn cứ Bời Lời. Ai dè xuồng qua mé sông gặp lính đang phong tỏa vớt cháu bé chết đuối, phát hiện xuồng quầy bỏ chạy chúng đuổi theo bắn xối xả.
Cậu lính giao liên hy sinh, đồng chí Sáu Xoài và Trần Bạch Đằng bỏ xuồng nhảy xuống sông bơi thoát thân. Nhưng chẳng may cặp tài liệu mật mang theo người của đồng chí Trần Bạch Đằng bị rơi mất dưới sông…
Cuộc chiến đấu của những cán bộ công an, an ninh miền Nam những ngày đầu chống Mỹ cứu nước có biết bao gian khổ, hy sinh và oanh liệt.
Một thế hệ vàng của Công an nhân dân Việt Nam đã góp phần làm nên trang sử vàng vẻ vang cho truyền thống Công an nhân dân Việt Nam anh hùng, vì nước quên thân, vì dân phục vụ.